Wednesday, June 6, 2012

Ký giả nằm vùng

            Tôi không biết chắc miền Nam trước 30 tháng 4 1975 có bao nhiêu ký giả nằm vùng cho cộng sản, tôi chỉ nhớ có mấy người. Có người tôi quen thân, cũng có người tôi chỉ gặp một vài lần mà không quen.
            Người tôi quen thân nhất là Nguyễn Ngọc Lương vì Lương cùng làm đài phát thanh Saigon với tôi nhiều năm, lại cùng quê Nam Ðịnh. Lương ở Hải Hậu, tôi ở ngay tỉnh lỵ. Vì tình đồng hương, chúng tôi dễ thân nhau. Hồi mới gặp Lương, tôi không ngờ  ông lại là một cán bộ cộng sản được gài vào Nam theo cuộc di cư năm 1954. Ông có vẻ nhà quê và ít hiểu biết. Vào cuối thập niên 1950, thuốc chữa bệnh lao phổi rất hiệu nghiệm là Streptomycine, thế mà Lương không biết. Khi tôi sang thăm ông bên Thị Nghè, thấy ông gầy và xanh xao. Tôi ngạc nhiên hỏi ông có ốm đau gì không, thì ông cho biết bị lao phổi và đang uống thuốc Bắc. Tôi rất ngạc nhiên về sự kém hiểu biết của ông. Vậy mà cũng là biên tập viên phòng bình luận đài phát thanh Saigon. Tôi liền nói :
            “Trời ơi, sao cậu lại uống thuốc Bắc ? Cậu phải đi bác sĩ hoặc vào nhà thương ngay. Thuốc Bắc làm sao chữa được ho lao.”
            Quả nhiên sau một thời gian nằm bệnh viện Saint Paul, Lương khỏi bệnh. Con người như thế, ai có thể ngờ là một cán bộ cộng sản nằm vùng. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau, ông bị công an bắt. Không phải một lần mà nhiều lần. Tôi không hiểu sao công an bắt rồi thả mà không giam giữ luôn trong tù hoặc đưa ra tòa nếu biết chắc ông hoạt động cho cộng sản ? Không những thế, ông tổng giám đốc Nha Vô Tuyến Truyến Thanh còn vào khám thăm Lương. Nhưng rồi ôg không làm đài phát thanh nữa mà ra mở báo riêng, một tờ nguyệt san (tôi quên tên tờ nguyệt san này). Tòa báo ở đường Phạm Ngũ Lão và bút hiệu ông là Nguyễn Nguyên. Như vậy, chính quyền miền Nam quá khoan dung.
            Sau 30 tháng 4 năm 1975, Lương lộ nguyên hình là một cán bộ cộng sản trong lãnh vực báo chí. Ði đâu ông cũng ôm kè kè một chiếc cặp da đầy các bài viết. Ông thường hôi thúc tôi viết cho ông, nhưng không nói rõ sẽ đăng ở báo nào. Một hôm, Ông mở cặp lấy ra hai bài viết của hai tác giả nổi tiếng miền Nam (tôi xin phép được dấu tên hai tác giả này vì một người đã qua đời và một hiện sống ở Úc). Tôi tò mò đọc lướt qua hai bài viết. Cả hai đều bị Lương sửa bằng bút đỏ, như thầy giáo sửa bài luận văn của học trò. Thật ra, tôi cũng chưa bao giờ sửa bài học trò quá đáng như vậy. Tôi rất ngạc nhiên về sự sửa chữa ấy. Dù sao họ cũng là những tác giả đã nổi tiếng trước 1975.
            Sau nhiều lần bị Lương hối thúc, tôi đành viết một truyện ngắn, tên là “Tiếng Hát Trương Chi” với mục đích bênh vực các nhà văn miền Nam cũ, cho rằng họ là những người có tài, nhưng bị chế độ mới ruồng rẫy, ghét bỏ. Khi tôi viết xong, tìm Lương thì không thấy ông đâu. Có người cho biết lúc đó ông  phải về quê Hải Hậu, Nam Ðịnh, để xác nhận lại đảng tịch và cấp bậc thượng tá. Khi tôi đưa các con tôi vượt biên thì ông vẫn chưa trở lại Saigon.
            Sau khi được định cư ở Mỹ, tôi lại liên lạc được với Lương qua những lá thư gửi bưu điện. Tôi biết tin ông không còn được đảng và nhà nước cộng sản trọng dụng nữa. Ông phải viết cho báo Tiếp Thị để tạm sống qua ngày. Mỗi lần về Nam Ðịnh thế nào ông cũng ghé thăm ông anh rể và bà chị ruột tôi. Bây giờ thì cả ba người đều không còn nữa. Trong môt bức thư khác ông cho biết vợ ông đã bỏ ông. Bà là em gái ông Ngô Vân, chủ nhiệm nhật báo Tia Sáng ở Hà Nội trước năm 1954. Bà làm cho sở Mỹ, đáng lẽ được Mỹ bốc ra khỏi Việt Nam trước ngày 30 tháng 4 năm 1975. Nhưng vì chồng bà là cán bộ cộng sản nên bà bị bỏ rơi.
            Lương qua đời vì bệnh ung thư.
            Người thứ hai mang tiếng nằm vùng hay thân cộng là Vũ Hạnh. Tôi quen Vũ Hạnh từ hồi cùng làm báo Ngày Nay của nhà văn Nguyễn Họat tức Hiếu Chân, Rồi sau đó lại cùng dạy ở một trường tư. Vũ Hạnh tên thật là Nguyễn Ðức Dũng, người Ðà Nẵng (hay Hội An ?). Theo ông Vũ Ký, một giáo sư của trường Pétrus Ký, cũng là một nhà văn, cùng quê với Vũ Hạnh, thì Hạnh đã bị chính quyền tỉnh Ðà Nẵng (hay Hội An ?) nọc ra giữa sân tòa tỉnh trưởng để đánh đòn về tội thân cộng, rồi thả ra mà không bắt giam. Quả thật tôi không biết chuyện này thực hư ra sao nhưng thắc mắc nếu đã biết Hạnh là cộng sản nằm vùng mà không bắt giam, chỉ đánh đòn thôi ? Không lẽ chính quyền miền Nam chống cộng một cách…ngây thơ như vậy ?
            Dù nhiều người không ưa Vũ Hạnh, nhưng ai cũng phải công nhận ông viết văn hay. Nhiều lần ông đề nghị ông và tôi xuất bản một tờ báo lấy tên là “Ði Về Hướng Mặt Trời”. Tôi đứng tên chủ nhiệm, ông chủ bút. Tôi hiểu thâm ý của ông nên cương quyết từ chối.
            Sau khi cộng sản chiếm miền Nam, chính quyền cộng sản tổ chức một buổi họp mặt các văn nghệ sĩ Saigon ở tòa đại sứ cũ của Ðại Hàn, Hạnh và mấy cán bộ nàm vùng, như Thái Bạch, Nguyễn Ngọc Lương đều đeo súng lục bên hông. Thi sĩ Hoàng Anh Tuấn nửa đùa nửa thật nói với Hạnh :”Anh em văn nghệ sĩ chỉ quen dùng bút, chư có biết chơi súng đau.” Hạnh lườm xéo Tuấn một cái rồi bỏ đi.
Nhưng mấy tháng sau đó, tôi tình cờ gặp Hạnh ở giữa đường. Tôi chưa kịp hỏi thăm, ông đã lắc đầu nói nhỏ :”Totalement decu !” (hoàn toàn thất vọng). Tôi không dám có ý kiến gì vì khi ở với cộng sản, ta không thể tin bất cứ ai trừ những người thân trong gia đình. Ít lâu sau, một người bạn giầu có của tôi cho biết anh cộng tác với Vũ hạnh để mở một gánh hát cải lương. Tôi không quan tâm mấy nên không hỏi thêm điều gì, vì lúc đó vợ tôi đang ốm nặng. Dường như gánh hát thất bại nên tôi lại nghe tin Hạnh lập xưởng làm xà bông. Tất nhiên cũng phải có người bỏ vốn. Tôi thắc mắc tại sao Hạnh thân cộng, nằm vùng mà sau khi chiếm được miền Nam cộng sản không dùng Hạnh khiến ông long đong phải làm hết việc này đén việc khác để kiếm sống ? Bẵng đi một thời gian khá lâu, khi tôi đang tìm đường vượt biên, một hôm tôi tình cờ gặp Trần Phong Giao ở nhà bưu điện Saigon. Giao là chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ nguyệt san Văn trước năm 1975. Giao và tôi ngoài tình bạn văn nghệ còn có tình đồng hương nữa. Chúng tôi cùng sinh trưởng ở Nam Ðịnh. Vì lâu không gặp nhau, chúng tôi ngồi ngay xuống bậc thềm nhà bưu điện để nói chuyện. Chúng tôi nói đủ thứ chuyện, cuối cùng, tôi thì thầm cho Giao biết tôi đang tìm đường vượt biên. Ông liền hỏi tôi có biết Vũ Hạnh cũng đang tìm đường vượt biên không ? Tôi ngạc nhiên hỏi :
”Nó mà cũng vượt biên ?”
Giao lắc đầu và cho biết Hạnh tìm đường cho các con Hạnh thôi. Rồi Giao cười, nửa đùa nửa thật :
“Thằng ấy mà ra khỏi nước thế nào cũng bị người ta quẳng xuống biển.”
Rồi Giao nói thêm :
“Ngay cả việc giới thiệu cho con nó đi thôi cũng không dám, lỡ nó tố cáo với công an tổ chức vượt biên thì mệt lắm.”
Có một điều rất ngạc nhiên là từ khi ra khỏi nước, sống ở hải ngoại, tôi không hề nghe ai nhắc tới Vũ Hạnh nữa, kể cả những bạn văn nghệ còn sống ở Việt Nam. Cho đến nay tôi không hiểu Hạnh còn sống hay đã chết ?
Nhà văn thứ ba bị coi là nằm vùng cho cộng sản là Ngọc Linh. Khi viết truyện cho nhật báo Hồa Bình, cứ hai ba hôm tôi lại phải ghé tòa báo để đưa bài. Lần nào tôi cũng gặp Ngọc Linh. Ông làm thường trực trong ban biên tập, đồng thời viết cả truyện dài cho báo. Ông là một nhà văn có nhiều độc giả hâm mộ. Ông có truyện đã được đưa lên sân khấu cải lương và quay thành phim, như truyện “Ðôi Mắt Người Xưa”. Một hôm tôi ghé tòa soạn Chính Luận để đưa bài, một nhân viên tòa soạn hỏi tôi có biết Ngọc  Linh là cộng sản nằm vùng không ? Tôi hơi ngạc nhiên vì quả thật tôi không bao giờ nghĩ rằng Ngọc Linh lại có thể là một cán bộ cộng sản. Ông có một cuộc sống rất sung túc và rất…tiểu tư sản. Ông đi xe hơi Nhật mới toanh, là chủ một phòng tập dưỡng sinh (không rõ là Tai chi hay Yoga ?) Truyện ông viết rất ướt át đày tình cảm. Ông biết rõ lập trường chống cộng của tôi mà vẫn thân mật với tôi. Ông đã giới thiệu nhà xuất bản in sách của tôi.
Rồi chỉ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông mới tỏ ra thân cộng.  Ông tích cực họat động cho hội Văn Nghệ Sĩ cộng sản. Một hôm, tôi tình cờ gặp ông giữa đường, lúc đó ông không còn lái xe hơi nữa mà đi xe đạp, tôi vui vẻ chào ông mà ông ngoảnh mặt làm ngơ như chưa từng biết tôi là ai. Tôi hơi ngạc nhiên nhưng hiểu ra ngay. Tôi không buồn mà cũng chẳng giận ông. Ít lâu sau thì nghe tin ông bị tai biến mạch máu não và qua đời.
Trong giới văn nghệ Saigon, người ta cũng đồn nhà văn Sơn Nam nằm vùng. Tôi không thân với Sơn Nam, chỉ thỉnh thoảng gặp nhau ở tòa báo Chính Luận khi cung đến đưa bài. Chúng tôi lạnh nhạt chào nhau một cách xã giao. Sau khi cộng sản chiếm miền Nam, tôi thấy ông cũng không có gì thay đổi.
Người cuối cùng nằm vùng trong làng báo Saigon mà tôi biết là Thái Bạch. Tôi chỉ gặp Thái Bạch có hai lần. Lần thứ nhất ở tòa báo Tự do vào năm 1955, rồi ông mất tích luôn. Sau 30 tháng 4 năm 1975, trong buổi họp các văn nghệ sĩ Saigon ở tòa đại sứ Ðại Hàn cũ, ông xuất hiện và có đeo súng lục bên hông với vẻ mặt vênh váo.
Tổng số những nhà văn nhà báo nằm vùng cho cộng sản hay thân cộng, tôi chỉ biết có thế thôi. Nhưng tôi thắc mắc về hai chữ “nằm vùng”. Theo tôi hiểu thì “nằm vùng” là có hoạt động cho cộng sản, chống lại chính quyền quốc gia miền Nam. Ngay cả Nguyễn Ngọc Lương là người được cộng sản gài theo dân Bắc di cư vào Nam và có cấp bậc thượng tá và là đảng viên đảng cộng sản, tôi cũng không thấy có hoạt động gì có lợi cho cộng sản. Không những thế, ông còn làm trong phòng bình luận của đài phát thanh Saigon. Nhân viên của phòng này có nhiệm vụ viết những bài ca tụng hoặc giải thích mọi việc làm của chính phủ. Một biên tập viên của chính phòng đó một hôm nói đùa với tôi rằng họ làm công việc “mẹ hát con khen hay”. Lương cũng phải viết những bài theo lập trường đó, không thể viết ngược lại được. Người ta chỉ biết ông là cộng sản khi ông bị công an Saigon bắt mấy lần.
Ðối với những người “nằm vùng” hay thân cộng, tôi không được đọc một bài viết chống chính phủ quốc gia hay ca tụng cộng sản nào. Như vậy, có thật họ nằm vùng hay chỉ ngấm ngầm thân cộng thôi ? Nếu chỉ là thân cộng hay có cảm tình với cộng sản thì tôi dám nói rằng trước 30 tháng 4 năm 1975, đa số người Nam có cảm tình với cộng sản vì nhiều gia đình có thân nhân tập kết ra Bắc. Rồi chỉ sau khi cộng sản Bắc Việt chiếm miền Nam và giải tán Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam họ mới vỡ mộng.  Vào cuối năm 1975, một hôm nhà văn Phan Nghị đến thăm tôi. Khi tôi ra mở cửa, ông toe toét cười nói oang oang :
“Mày biết không ? Bây giờ miền Nam hết người mù rồi.”
Tôi chưa hiểu ý ông định nói gì thì ông đã tiếp :
“Chúng nó sáng mắt rồi, mày ạ.”                                                     
                                     
                                                                                                      TQK (6-2012)     

Friday, May 18, 2012

         Nhật báo Ngôn Luận và tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong.
                                              
                                           Tạ Quang Khôi

K
hi báo Tự Do của nhóm người Bắc di cư đfnh bản, tôi không thất nghiệp  vì được ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng mời viết cho Ngôn Luận ngay. Ông Hồ Anh cũng mời cả thi sĩ Ðinh Hùng viết truyện dài dã sử “Ngưòi Ðao Phủ Thành Ðại La”.  Ông Hoàng Hải Thủy viết truyện “Chiếc Hôn Tử Biệt”. Tôi không nhớ truyện đầu tiên tôi viết cho Ngôn Luận là truyện gì, chỉ nhớ truyện cuối cùng là “Thầm Lặng”, một truyện tình cảm rất ướt át. Sau đó, tôi tạm thời từ giã làng văn làng báo Saigon để hành nghề gõ đầu trẻ.
Năm 1956, ông Hồ Anh xuất bản tờ tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, ông Hoàng Hải Thủy và tôi cũng đóng góp bài cho tờ báo mới ra lò này. Ông Hoàng Hải Thủy viết phóng sự về “Vũ Nữ Saigon”.  Còn tôi thi một truyện dài tình cảm tên là “Mưa Gió Miền Nam”.  Ðôc giả có nhận xét là cả hai chúng tôi cùng viết về vũ nữ. Tôi không hiểu ông Hoàng Hải Thủy có kinh nghiệm gì về vũ nữ không, riêng tôi, tôi không biết nhảy đầm. Cho đến nay tôi vẫn chưa hề học nhảy bao giờ.
Truyện “Mưa Gió Miền Nam” được in thành sách sau này và nó đã trở thành một lưỡi dao oan nghiệt cắt đứt nghề giáo mác của tôi. “Mưa Gió Miền Nam” là chuyện một cặp vợ chồng trẻ chạy trốn cộng sản, từ Hà Nội di cư vào Saigon. Người chồng bị thất nghiệp, tìm không ra việc làm. Khi tình trạng hoàn toàn bế tắc, tiền bạc bắt đầu thiếu hụt, cô vợ xinh đẹp nghe lời khuyên của một người bạn gái, miễn cưỡng bước chân vào nghề vũ nữ. Rồi từ đó sa ngã vào con đường trụy lạc, bỏ chồng. Sau 30 tháng 4 năm 1975, một cán bộ cộng sản tiếp thu Thanh Tra đoàn bộ Giáo Dục, nơi tôi đang làm việc, tình cờ đọc truyện này, thấy tôi có tinh thần chống cộng tích cực bèn đuổi tôi ra khỏi ngành giáo dục, gửi về cho địa phương quản lý. Ngay tức thì, ủy ban nhân dân phường tôi cư ngụ đuổi gia đình tôi đi kinh tế mới vì tôi thất nghiệp. Nhưng rất may, vào dịp đó, mấy ông thương gia trong phường cũng bị thất nghiệp vì tiệm buôn của họ phải đóng cửa và họ cũng bị “bong ma” kinh tế mới đe dọa trầm trọng. Họ bèn họp nhau để thành lập một tổ làm mì sợi. Tôi được mời gia nhập và góp vốn. Tất nhiên tôi nắm ngay lấy dịp may này. Nhưng tôi làm gì có tiền để đóng góp, phải hỏi vay ông anh rể và bà chị ruột.  Nhưng hai người thương vợ chồng tôi và lũ cháu nhỏ nheo nhóc, không cho vay mà tặng luôn. Thế là tôi thoát cái nạn kinh tế mới.
Trong thời gian viêt cho Ngôn Luận và Văn Nghệ Tiền Phong, tôi đã quen biết nhiều người trong tòa soạn mà chúng tôi giao du rất lâu, có người cho đến ngày nay vẫn liên lạc.
Người đầu tiên cần nhắc đến là ông chủ nhiệm Hồ Anh.  Ông tên thật là Lê Văn Bình, gốc là một huấn luyện viên thể dục thể thao, tốt nghiệp trường đào tạo ở Phan Thiết thời Pháp thuộc. Khi ở Ðà Lạt ông đã đổi thành họ Nguyễn, Nguyên Thanh Hoàng. Theo lời ông, bút hiêu Hồ Anh là do cụ Á Nam Trần Tuấn Khải đặt. Cụ tách tên Hoàng thành Hồ Anh. Ðáng lẽ phải là Hồ Ang, nhưng Ang vô nghĩa, đổi sang Anh. Khi còn nghèo, ông di chuyển bằng một chiéc xe Lambretta trơ cả máy mà ngươi ta gọi đùa là Lambretta cởi truồng.
Nhật báo Ngôn Luận thoạt tiên do tiền của phủ tổng thống nên chỉ phổ biến và tuyên truyền cho nhà nước. Giám đốc chính trị của tờ báo là ông Hà Ðức Minh, một người có nhiều lien hệ mật thiết với phủ tổng thống. Sau này, khi tờ báo có nhiều độc giả (vì nhật báo Tự Do đóng cửa) và đứng vững, ông Hồ Anh không lệ thuộc vào phủ tổng thống nữa và ông Hà Ðức Minh cũng rời khỏi tờ báo.
Thư ký tòa soạn đầu tiên của tờ báo tôi không biết là ai, khi tôi bắt đầu cộng tác thì ông Từ Chung, mới từ Thụy Sĩ về, đảm nhiệm chức vụ này. Trong một dịp ngồi tán gẫu trong tòa soạn, ông Hồ Anh khoe đã bỏ tiền cho ông Từ Chung đi du học. Chuyện  thực hư ra sao chỉ hai ông biết mà thôi.
Tòa soạn báo Ngôn Luận gồm có Thái Linh, Vân Sơn, Thanh Thương Hoàng, Phan Nghị, Hồng Dương, họa sĩ Văn Ðạt…Tôi không biết Thái Linh tên thật là gì, chỉ biết ông hồi còn ở ngoài Bắc là một đảng viên Duy Dân nên mới lấy chữ Thái đứng đầu. Vào Nam ông lấy họ Phạm, Phạm Văn Linh, bút hiệu là Thái Linh. Ông cho biết ông đã theo lãnh tụ Duy Dân Lý Ðông A lên chiến khu Nga My, gần Nho Quan, thuộc Ninh Bình. Khi Nga My bị Việt Minh tấn công, ông bỏ chạy về Hà Nội. Thái Linh được coi là một trụ cột của báo Ngôn Luận. Khi có những vấn đề quan trọng, ông Hồ Anh đều giao cho ông giải quyết.
Phan Nghị là một phóng viên có uy tín trong làng báo. Ông viết nhiều bài phóng sự rất hay. Nhưng ông lại là người chân thật, cả tin, bạn bè liệt ông vào loại “phổi bò”. Khi ông Nguyễn Chánh Thi làm đảo chính, Phan Nghị đến building Cửu Long ở đường Hai Bà Trưng để chơi bài với một nhóm văn nghệ sĩ, như : Thanh Nam, Thái Thủy, Hoàng Thư…rồi khi ra về, nghe đồn ông Diệm đã đầu hàng, bèn viết tin có tựa đề “Quân ta đại thắng, Diệm đầu hàng”, được để lên tám cột trang nhất của tờ Ngôn Luận. Báo đã in được 6000 tờ thì lại có tin tướng Trần Thiện Khiêm đem sư đoàn 7 từ Mỹ Tho về cứu giá. Thế là 6000 tờ báo phải hủy tức khắc.
Vân Sơn, với bút hiệu Thùy Hương, chuyên viết những bài về phụ nữ. Ông là ngươi hiền lành, chân chỉ hạt bột, không có gì xuất sắc.
Hai ông Hồng Dương và Thanh Thương Hoàng đều là phóng viên chạy ngoài.
Ông Ðạm Phong là phóng viên thể thao, nhưng cũng có khi làm phóng sự đặc biệt. Ông nổi tiếng về loạt bài “Con Ma Vú Dài” ở Cà Mau. Khi sang Mỹ, Ðạm Phong định cư ở tiểu bang Texas. Ông đã táo bạo vạch trần mánh khóe lừa bịp của Mặt Trạn Hoàng Cơ Minh nên đã bị ám sát chết. Nhưng thật ra, người ta không biết chắc ai là thủ phạm vụ án mạng này.
Ông Hồng Dương tên thật là Nguyễn Hữu Hùng, được tiếng đẹp trai nhất làng
báo, một thời là chông của nữ danh ca Lệ Thu.
ÔngThanh Thương Hoàng đươc cả làng báo mang ơn. Ông là người sáng lập Hôi Ký Giả Việt Nam và vay tiền ngân hang để xây dựng làng báo chí gần Thủ Ðức. Hầu như tất cả những người làm báo hay dính líu đến nghề báo thời đó, cả Nam lẫn Bắc, đều được một căn nhà trong làng báo chí. Sau này, khi chúng tôi gặp lại nhau ở Mỹ, ông Thanh Thương Hoàng cho biết đa số người mua nhà trong làng báo chí không trả tiền.
Ông Thầy Gòn, tức Tử Vi Lang, hàng ngày viết chuyện phiếm cho báo. Ông dịch lại Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa để đăng từng kỳ trên báo. Nhiều người cho rằng bản dịch của ông đầy đủ hơn bản dịch của cụ Phan Kế Bính ngày xưa. Ông tên thật là Nguyễn Văn Ðính, người Thanh Hóa.
Hàng ngày, báo Ngôn Luận có tranh vui cười “Bé Ngôn, bé Luận” do họa sĩ Văn Ðạt vẽ. Ðộc giả nhi đồng rất hâm mộ lọai tranh này.
Khi ông Hồ Anh xuất bản tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, tôi cũng viết một truyện dài (như đã nói ở trên). Một hôm, tòa báo nhận được thư độc giả than phiền người phụ trách mục giải đáp tâm tình đã khuyên đôc giả ly dị. Hồi đó, vào những năm giữa thập niên 1950, dù chưa có luật Gia Ðình của bà Ngô Ðình Nhu, chuyện ly dị ở Việt Nam cũng ít xảy ra, nên độc giả mới coi là chuyện quan trọng. Ông Hồ Anh muốn đổi người khác phụ trách mục này. Trong lúc cấp thời chưa tìm ra ngươi thay thế, ông đề nghị tôi tạm giữ vài kỳ. Vì nể ông, tôi đành nhận lời và lấy bút hiệu là Diễm Hồng, tên một cô bạn học lớp đệ Nhất Chu Văn An, Hà Nội. Ông Tử Vi Lang chê cái tên hiền lành quá, sợ không “ăn khứa”. Ông đề nghị thêm chữ Kiều. Thế là tên Kiều Diễm Hồng ra đời. Nhưng tôi chỉ giữ mục này có vài kỳ rồi trao cho ngươi khác. Tên Kiều Diễm Hồng được ông Thái Linh đưa sang cả báo Chính Luận sau này trong trang Mai Bê Bi.
Sau cuộc đảo chính giết hai anh em ông Diệm, làng báo Việt Nam có thay đổi lớn. Một hôm, tôi đến báo Ngôn Luận để đưa bài, thấy nhiều người vây quanh ông quản lý Nguyễn Như Cương với vẻ mặt lo lắng. Tôi tò mò ghé lại nghe lóm. Ông Cương cho biết bộ Thông Tin dọa đóng cửa 23 tờ báo nếu không nhận được hối lộ 400 ngàn cho một tờ báo. Số tiên cũng không lớn đối với báo Ngôn Luận. Nhưng ông quản lý không dám một mình quyết định. Trong khi đó, ông chủ nhiệm đi chơi Vũng Tàu với bạn gái, lại không cho biết nơi tạm trú, nên không sao liên lạc được. Kết quả là Ngôn Luận bị…”fermé boutique”. Khi ông chủ nhiệm đi chơi về thì mọi chuyện đã xong.
Vào dịp đó, ông Ðặng Văn Sung, mới đắc cử thượng nghị sĩ, xuất bản tờ nhật báo Chính Luận. Ông liền mời cả tòa soạn của Ngôn Luận cộng tác. Mới thất nghiệp lại có việc làm ngay, ai mà từ chôi cho được. Thế là cả tòa soạn Ngôn Luận biến thành tòa soạn Chính Luận. Ông Từ Chung vẫn là thư ký tòa soạn. Ðể tăng cường cho tờ báo mới ra lò, ông Thái Linh đề nghị tôi giũ trang Văn Nghệ. Tôi nhận lời, nhưng chưa thực sự làm việc thì ông Hồ Anh lại yêu cầu tôi cộng tác với ông trong tờ báo mới, đó là tờ Thời Thế. Tôi làm phụ tá cho chủ bút là nhà văn Lê Xuyên, tác giả cuốn tiểu thuyết rất nổi tiếng “Chú Tư Cầu”. Ngoài ra, tôi còn phụ trách trang học sinh. Ông Lê Xuyên là người Nam, có một thời hoạt động cách mạng, theo đảng Ðại Việt, nên đã từng ra Bắc và lấy vợ Bắc. Ông hiền lành, dễ tính, nói năng từ tôn, khác hẳn các nhân vật nóng bỏng trong các truyện của ông. Sau năm 1975, khi tôi đã sang Mỹ, nghe tin ông phải bán thuốc lá ở một góc đường Khổng Tử trong Chợ Lớn để tạm sống cho qua ngày. Cách đây khoảng 7 hay 8 năm, bạn hữu ở Saigon báo tin ông đã từ trần.
Tờ báo Thời Thế của ông Hồ Anh không cạnh tranh nổi với báo Chính Luận nên rồi cũng phải dẹp tiệm. Khi ông Từ Chung bị cộng sản ám sát ở ngay gần nhà, trong vùng trường đua Phú Thọ, ông Hồ Anh có vẻ hả hê, nói với tôi :”Kẻ bội bạc đã bị trừng phạt. Ðúng là trời có mắt !”
Nhưng dù không có Từ Chung, báo Chính Luận vẫn bán chạy như tôm tươi. Người thay thế ông trong chức vụ thư ký tòa soạn là ông Nguyễn Thái Lân.
Cái duyên văn nghệ giữa ông Hồ Anh với tôi không chấm dút ngay với tờ Thời Thế.  Khi tôi sang Mỹ, ở Sacramento (CA), ông Hồ Anh đã từ Virginia bay sang gặp tôi để mời tôi làm cho báo Văn Nghệ Tiền Phong.  Tôi đang ăn welfare, theo chương trình AFDC, coi như cuộc sống tạm ổn, nhưng tôi là người thích tự lập, nên nhận lời ông ngay. Thế là tôi lếch thếch đưa các con sang Virginia. Truyện đầu tiên tôi trình diện với độc giả Việt Nam ở Mỹ là truyện giả tưởng “Kiếp Chó”. Trong truyện này, Hồ Chí Minh đầu thai thành một con chó, chỉ thích ăn phân người, gọi là “bít tết đồng”. Khi truyện mới đăng được mấy kỳ, phản ứng của độc giả chia làm hai phe. Một phe rất tán thành, một phe cực lực phản đối. Không cần giải thích, ai cũng biết hai phe đó là những ai. Hồi đó, vì còn nhiều thân nhân kẹt lại Việt Nam, tôi không dám để tên thật trong truyện này mà phải lấy một bút hiệu khác.
 Nhưng tôi mới làm cho Văn Nghệ Tiền Phong có 3 tháng rưỡi thì ông chủ nhiệm nghe lời ông Lê Triết đuổi tôi. Lý do là tôi không chịu viết bài đả kích Mặt Trận Hoàng Cơ Minh. Khi ông Hồ Anh đề nghị tôi viết lọai bài này, tôi đã cho ông biết tôi không nên viết thêm khi tờ báo chỉ có 100 trang, kể cả bìa, mà bên trong đã có tới 6 bài đả kích Mặt Trận bịp, độc giả sẽ ngán đến cổ. Ông Lê Triết nghi tôi nằm vùng cho Mặt Trận nên xúi ông Hồ Anh đuổi tôi..
Thật ra, khi tôi mới đên San José, một nhân viên của Mặt Trận (nay cũng đang ở Virginia) đã gặp tôi ngay và đê nghị tôi cộng tác với báo Kháng Chiến của Mặt Trận. Ông ta đưa tôi đến thăm tòa báo, rồi muốn giữ tôi ở lại ngay đó để làm việc. Tôi cho biết tôi có ba con nhỏ đi cùng, không thể bỏ rơi chúng được, phải cho tôi có thời gian thu xếp. Buổi tối hôm đó, về nhà, tôi gọi điện thọai cho một người bạn cũ ở Nam Cali. Ông nguyên là nhân viên thân tín của bác sĩ Trần Kim Tuyến. Ông khuyên tôi nên dọn ngay đi nơi khác, đừng ở San José nữa để tránh xa Mặt Trận vì họ chỉ là bọn bịp bợm thôi. Tôi vội đem các con tôi lên Sacramento…tỵ nạn lần thứ hai.
Sau khi bị đuổi ra khỏi tòa báo, một mặt tôi xin trợ cấp trở lại một mặt tôi kiếm việc để làm. Nhưng, một hôm, sau khi tôi bị đuổi ra khỏi tòa báo khoảng nửa tháng, ông Hồ Anh gọi phone xin lỗi và mời tôi trở lại làm việc. Dù biết ông là kẻ “lá mặt lá trái” nhưng chưa kiếm được việc làm, tôi cũng đành nghe lời ông. Tôi phụ trách đọc thư và trả lời thư độc giả, đọc và chọn lựa bài độc giả gửi về. Vào dịp này, tòa soạn đươc tăng cường bằng một nhà văn từ xa tới. Ông Sơn Tùng, cư ngụ ở Nam Cali, thường gửi truyện ngắn và bài phiếm luận cho báo. Ông Hồ Anh rất thích lối viết của ông Sơn Tùng nên đã viết thư mời sang Virginia. Ông mua vé máy bay cho ông Sơn Tùng và cho ông tạm thời ở ngay trong tòa báo. Ông được phong là phụ tá chủ bút..
Khi ông Sơn Tùng bắt đầu làm việc, ông Hồ Anh xuất bản thêm tờ Tiểu Thuyết Nguyệt San. Tôi vừa làm thư ký tòa soạn vừa phải lay out tờ báo này. Ông Hồ Anh là người lý tài, keo kiệt, nên rất khó khăn về tiền bạc với nhân viên. Làm cho Văn Nghệt Tiền Phong lương đã thấp lại không có bảo hiểm sức khỏe. Vì thế, tôi vẫn ngấm ngầm tìm việc khác. Khi tờ Tiểu Thuyết Nguyệt San ra số 11, tôi được một hội thiện của Mỹ ở Washington DC gọi đi làm. Tuy lương thấp, vì tôi chỉ là một clerk (nửa thư ký nửa tùy phái) nhưng có đầy đủ bảo hiểm sức khỏe (cho cả các con nhỏ của tôi). Thật ra, lương sở Mỹ tuy thấp nhưng cũng gấp hai lương Văn Nghệ Tiền Phong  Tôi làm cho sở này đến ngày về hưu. Ngưòi thay tôi để lo tờ Tiểu Thuyết Nguyệt San là thi sĩ Hoàng Anh Tuấn. Tôi không hiểu báo ra thêm được mấy số thì phải đình bản.
Ông Sơn Tùng cũng chỉ làm cho Văn Nghệ Tiền Phong có một thời gian ngắn,  rồi cũng bỏ việc. Tôi không rõ ông và ông Hồ Anh có chuyện lủng củng gì,.     ,   .
Vào một ngày cuối tháng 9 năm 1990, ông Sơn Tùng gọi điện thoại báo tin cả hai vợ chồng ông Lê Triết đã bị bắn chết ngay trươc cửa nhà khi sửa soạn xuống xe hơi.  Ngưòi ta nghi thủ phạm là người của Mặt Trận Hoàng Cơ Minh, nhưng cảnh sát Mỹ không chịu điều tra đến nơi đến chốn nên không biết chắc.
Vụ ám sát này khiến người ta nhớ lại một vụ ám sát khác, nạn nhân cũng là một nhân viên tòa báo Văn Nghệ Tiền Phong. Có lời đồn rằng ông Ðỗ Trọng Nhân được Mặt Trận Hoàng Cơ Minh gài vào tòa báo để nằm vùng. Nhưng ông không làm tròn nhiệm vụ nên bị trừng phạt. Ông Nhân nguyên là một cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, khả năng về nghề làm báo của ông thấp kém, không viết lách được, chỉ có thể làm việc thủ công, cắt xén và xếp đặt lại các bài trươc khi đem in. Ngưòi như vậy thì làm sao có thể thay đổi lập trương của tờ báo được. Vì thế, người ta cho rằng ông Nhân bị giết oan..

                                                                                        Tạ Quang Khôi
                                                                                (3 – 2012)

Saturday, April 21, 2012

Tôi làm báo


 
                                                                Nhật báo Tự Do

            Cuối tháng 8 năm 1954, tôi theo gia đình bà chị ruột di cư vào Nam, trong khi bố mẹ tôi còn ở lại Nam Ðịnh. Vào đến Saigon, tôi phải tìm cách sống tự lập ngay. Một số bạn học cũ ở Chu Văn An Hà Nội rủ tôi xuống Tây Ninh dạy học cho một trường trung học của Cao Ðài. Tôi đang phân vân vì không muốn xa Saigon thì một nhóm nhà văn miền Bắc cũng mới di cư họp nhau xuất bản tờ nhật báo Tự Do. Ðể việc in báo được độc lập, họ mua một máy in riêng đặt ngay trong tòa báo.
Nhóm chủ trương tờ Tự Do mới đầu gồm có : Tam Lang, Mặc Ðỗ, Mặc Thu, Như Phong, Ðinh Hùng và Vũ Khắc Khoan. Ông Tam Lang đứng tên chủ nhiệm, ông Mặc Thu làm quản lý và ông Như Phong làm thư ký tòa soạn. Khi bắt đầu có nhà in, họ cần một thư ký và tôi được mướn. Lương tháng là 1,500 đồng. Có việc làm ở ngay Saigon là tôi mừng rồi, bất chấp lương cao thấp. Ngoài công việc nhà in, tôi vẫn giúp thầy cò (correcteur) sửa bản vỗ của thợ xếp chữ. Nhờ thế, tôi liên lạc thân mật với các nhân viên tòa soạn.
Báo được dân Bắc di cư ủng hộ nhiệt liệt nên số phát hành tăng nhanh mỗi ngày. Thế là nhóm chủ trương quyết định ra thêm một tờ tuần báo lấy tên là Văn Nghệ Tự Do.
Các bài đăng trong tờ nhật báo gồm có : “Chuyện hàng ngày” (film du jour) do ông Tam Lang phụ trách; ông Ðinh Hùng viết một truyện dài dã sử “Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu” với bút hiệu Hoài Ðiệp Thứ Lang, một bài thơ châm biếm “Ðàn Ngang Cung” với bút hiệu Thần Ðăng và tranh hí họa chống cộng, Ông Như Phong, ngoài công việc thư ký tòa soạn, còn viết một truyện dài tên là “Một Triệu Ðồng”.
Khi nhóm chủ trương mở rộng, có thêm ba người : Nguyễn Họat, Bùi Xuân Uyên và họa sĩ Phạm Tăng. Ông Nguyễn Hoạt, ngoài việc giúp ông Như Phong về tòa soạn, còn viết một truyện dài hàng ngày, tên là “Trăng Nước Ðồng Nai”. Vì làm việc quá hăng say, ông Như Phong bị lao phổi. Ông phải nghỉ nhà để chữa bệnh. Việc tòa soạn do ông Nguyễn Hoạt tạm thay thế. Ðáng lẽ khi ông Như Phong nghỉ, truyện dài “Một Triệu Ðồng” cũng phải tạm ngưng, nhưng tòa soạn lại quyết định tiếp tục. Ông Nguyễn Họat yêu cầu mỗi người viết một đoạn để chờ ông Như Phong đi làm lại. Ông Ðinh Hùng là người đang viết nhiều bài nhất cũng phải viêt giúp. Nhưng rồi vẫn không thấy ông Như Phong trở lại làm việc, những người viết thay không chịu viết tiếp nữa. Bỗng một hôm ông Nguyễn Hoạt nói với tôi :
”Anh viết giúp cho một vài kỳ đi, Như Phong cũng sắp đi làm rồi,”
Tôi rất ngạc nhiên về đề nghị ấy vì chưa bao giờ tôi dám mơ tưởng đến việc viết truyện dài đăng báo. Thỉnh thoảng tôi chỉ làm một bài thơ loại cóc chết hoặc viết một truyện ngắn vớ vẩn. Bây giờ viết truyện dài, dù chỉ vài kỳ, tôi cũng nghĩ rằng tôi không đủ khả năng. Không những thế, tôi đâu có phải là nhân viên tòa báo, chỉ là một thư ký quèn của nhà in thôi. Tôi tìm lời từ chối khéo, viện cớ không hề đọc truyện “Một Triệu Ðồng” nên có biết gì đâu mà viết tiếp. Suy nghĩ một chút, ông Họat nói :
”Vậy thì hôm nay tôi viết, anh cố đọc lại từ đầu truyện, rồi mai anh viết giúp vài kỳ.”
 Tuy trong lòng rất ngại ngùng, nhưng lại không muốn làm ông buồn, tôi đành nhận lời. Thế là đêm hôm đó tôi phải thức khuya để đọc truyện “Một Triệu Ðồng” của Như Phong. Sáng hôm sau, tôi bắt đầu hì hoáy viết. Ðược trang nào tôi đều đưa ngay cho ông Nguyễn Hoạt xem trước. Ông gật gù tỏ vẻ đắc ý. Tôi viết được ba ngày thì ông Như Phong trở lại làm việc. Tôi mừng húm. Ông Như Phong viết thêm vài kỳ nữa thì chấm dứt.
Vì ông chấm dứt bất ngờ nên tòa soạn không kịp tìm truyện khác thay thế. Ông Nguyễn Hoạt đề nghị với ban chủ trương mời tôi viết trám chỗ trống đó. Ông nói với mọi người :
”Mấy kỳ anh Khôi viết thay anh Như Phong thấy cũng được lắm.”
Tòa soạn đồng ý và bảo tôi thử viết một đoạn xem sao. Ðêm hôm đó tôi thức trắng để cố gắng viết một chương cho truyện dài đầu tay. Ðó là truyện “Vực Thẳm”. Tôi lấy bút hiệu là Tạ Quang Diễm, vì đó là bút hiệu của tôi khi làm thơ. Ông Nguyễn Hoạt đọc xong truyền cho mấy ông trong ban chủ trương. Mọi người đêu đồng ý cho đăng truyện “Vực Thẳm”. Ông Vũ Khắc Khoan nói với tôi :
”Mày việc đ…gì phải lấy bút hiệu, cứ tên thật mà chơi cũng được.”
Ông Khoan là bạn học của mấy ông anh họ tôi ở Bưởi nên vẫn coi tôi như em. Thế là tôi trở thành một nhà văn viết feuilleton.
Nhưng tờ Tự Do không sông lâu, nội bộ lủng củng rồi…dẹp tiệm.
Tôi không hiểu truyện “Vực Thẳm” của tôi có ăn khách không, nhưng khi Tự Do đóng cửa, tôi được ông Hồ Anh, chủ nhiệm báo Ngôn Luận, mời viết truyện dài cho báo này. Sau này, khi ông xuất bản tờ tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong tôi cũng viêt một truyện dài.
Trở lại chuyện nhật báo Tự Do bị đóng cửa. Việc thứ nhất : Một hôm ông Tam Lang sai tôi đến một building ở đường Bà Huyện Thanh Quan để gặp một đại diện của nhóm Ngân hàng. Nhóm này có ý định lấy tên báo Tự Do để ra một tờ báo riêng cho nhóm họ. Ðiều kiên duy nhất của ông Tam Lang là nhóm Ngân Hàng dùng lại cả tòa soạn của Tự Do cũ. Nhưng nhóm này từ chối. Thế là việc cộng tác không thành.
Sau đó, nhóm Ngân Hàng xuất bản tờ nguyệt san Bách Khoa. Tờ báo này có rất nhiều uy tín trong giới văn học.
Việc thứ hai : Năm 1996, ông Như Phong sang Mỹ theo diện HO, lên Virginia chơi và ghé thăm tôi. Trong dịp này, tôi hỏi ông về chuyện lủng củng nội bộ của báo Tự Do. Ông cho biết thực sự không có lủng củng nội bộ. Sở dĩ tờ Tự Do bị đình bản vì lý do chính trị. Phủ Tổng thống thấy báo Tự do được dân Bắc di cư ủng hộ thì không vui, vì nhóm chủ trương và nhân viên tòa soạn không ai có đạo Thiên chúa, lại không có ai là người Trung. Thế rồi báo đình bản được ít lâu lại tái xuất hiện với chủ nhiệm và quản lý mới. Ðó là hai ông Phạm Việt Tuyền và Kiều Văn Lân. Hai ông này không những theo đạo Thiên chúa mà còn là nhân viên phủ Tổng thống. Ông Như Phong vẫn làm thư ký tòa soạn, ông Nguyễn Hoạt vẫn là một nhân viên tòa soạn. Ông còn viết thêm mục “Chuyện Hàng Ngày” với bút hiệu Hiếu Chân. Mục này được đổi tên là “Nói Hay Ðừng”. Ngoài Hiếu Chân còn hai người nữa cũng viết trong mục này, là nhà văn đường rừng Tchya Ðái Ðức Tuấn. Bút hiệu của ông trong “Nói Hay Ðừng” là Mai Nguyệt. Người thứ ba là Phạm Xuân Ninh, tức Hà Thượng Nhân, với bút hiệu Tiểu Nhã. Ông nói lái “Nói Hay Ðừng” thành “Nứng Hay Ðòi”. Mục này được độc giả rất hâm mộ vì lối viết sắc bén và châm biếm của các tác giả.
Một lần, Mai Nguyệt viết một bài đụng chạm tới ông Cao Văn Tường, chủ tịch quốc hội thời đó. Ông Tường đòi trừng phạt báo Tự Do. Mai Nguyệt đã không sợ, còn viết thêm một bài, gọi ông Cao Văn Tường là “Cao Tặc” (đọc lái là Cặc Tao). Câu chuyện tưởng sẽ nổ lớn, nhưng nhờ có sự dàn xếp khéo léo của bác sĩ Trần Kim Tuyến mà được êm thắm.
Cuối năm 1969, không nhớ chắc vào tháng nào (8 hay 9 ?) tôi vào nhà thương Saint Paul thăm nhà văn Thanh Nam. Ông bị thổ huyết vì lao phổi. Vừa thấy tôi, Thanh Nam nói ngay :
” Ðêm qua tao sợ quá !”
Tôi liền nghĩ tới ma quỷ vì tôi vẫn nghe đồn phòng nhà thương nào cũng có ma. Bệnh nhân chết trong các phòng nhà thương không phải ít. Nhiều linh hồn không siêu thoát được, cứ luẩn quẩn nơi mình chết. Nhưng Thanh Nam nói ngay :
” Ðêm qua, ông Tchya Ðái Ðức Tuấn chết trong nhà thương này. Tao tưởng tao cũng đi theo ổng ngay.”
Tôi phì cười trấn an ông :
”Mày làm sao mà chết được. Bệnh mày chỉ là bệnh ghẻ phổi, chích hết một série Streptomycine là khỏi ngay, lại tha hồ đi tán gái.”
Quả nhiên, chỉ ít lâu sau Thanh Nam được xuất viện, rồi sống cho đến ngày mất vì ung thư cuống họng ở Mỹ vào cuối năm 1984.
Trở lại báo Tự do. Bà vợ kế của ông Phạm Việt Tuyền là con gái Cụ Ðốc Giác, trước kia ở Hải Phòng. Cụ Ðốc Giác quê ở phủ Xuân Trường, Nam Ðịnh, có họ vói Trường Chinh Ðặng Xuân Khu. Vì thế, sau khi miền Nam bị cộng sản chiếm, gia đình ông Phạm Việt Tuyền đươc đi Pháp, định cư ở Strasbourg. Sau đó ông Tuyền bị tai biến mạch máu não, nằm liệt nhiều năm.
Nhắc đến báo Tụ Do, cả thời Bắc Kỳ di cư lẫn thời phủ tổng thống, ngươi ta không thể quên cái công rất lớn của ông Như Phong Lê Văn Tiến. Phải nói là “tuần chay nào ông cũng có nước mắt”. Ông luôn luôn hết lòng lo cho tờ báo. Trong cả hai giai đoạn ông đêu làm thư ký tòa soạn và viết truyện dài hàng ngày. Giai đoạn đàu ông viết “Một Triệu Ðồng”, sang giai đoạn sau, ông có truyện “Khói Sóng”. Trong truyện này ông kể lại hồi còn trẻ đi theo các bậc đàn anh Hoàng Ðạo Nguyễn Tường Long, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam…làm cách mạng, chống cộng sản ở chién khu Vĩnh Yên, Việt Trì.
Vào những ngày cuối cùng của cuộc đời, đã phải đeo dây oxy để thở vì bị ung thư phổi, ông vẫn nhờ tôi tìm lại truyện “Khói Sóng”. Một nhân viên trong thư viên Quốc Hội Mỹ cho biết một thư viện của Hạ Uy Di có đầy đủ báo Tụ Do, tức là truyện “Khói Sóng” không sót một kỳ. Ông mừng lắm, nhưng chưa kịp làm gì thì ông đã ra đi vĩnh viễn.

                                                                                             Tạ Quang Khôi
                                                                                      (3 – 2012)

Monday, September 19, 2011

Saturday, September 17, 2011

                    TÌNH XA
                                          Tạ Quang Khôi

Ô
ng bà Luyện xa nhau đã hơn bảy năm mà bây giờ được gặp lại cũng không tỏ vẻ mừng vui.  Họ cười với nhau, nắm tay nhau, nhưng cả hai đôi mắt đều thiếu vẻ trìu mến, thiết tha. Chỉ cò mấy đứa con theo bà từ Việt Nam qua là mừng vui khi được gặp cha.
            Sau khi lấy hành lý, mọi người lên chiếc xe “ven” của ông Luyện để rời phi trường. Xe vừa nổ máy, con Thảo, mới 8 tuổi, bỗng lên tiếng hỏi :
            “Bao giờ bác Thạnh sang Mỹ với mình, hả má ?”
            Câu hỏi ngây thơ của nó làm bà Luyện giật thót mình, trong khi mặt ông Luyện bỗng đanh lại. Thằng Ðạt, lớn nhất trong ba đứa con, liền lên tiếng nạt em:
            “Câm cái mõm lại, Thảo !”
            Con Thảo ngơ ngác không hiểu tại sao lại bị anh mắng. Bác Thạnh không phải là người thân của gia đình nó sao ? Hàng ngày bác vẫn đến chơi và thường cho quà anh em nó.
            Khi xe ngừng lại trong một bãi đậu xe của khu nhà cho mướn, ông Luyện nói :
            “Tôi thuê cho bà và các con ở tạm đây một căn có hai phòng ngủ. Tôi sẽ cố gắng giúp bà trong hai năm, sau đó bà phải tự túc. Chắc bà cũng biết rằng tôi phải bảo lãnh cho bà sang Mỹ cũng chỉ vì tương lai của các con ?”
            Bà Luyện im lặng, rồi cùng các con mang hành lý theo chồng vào khu nhà cho thuê. Vì là khu rẻ tiền, không có thang máy, phải leo cầu thang lên tầng thứ ba với nhiều hành lý nặng nề. Nhà tuy nhỏ nhưng có đủ tiện nghi tối thiểu. Ông Luyện cũng đã sắm sửa thêm nhiều thứ cho bốn mẹ con. Cả hai phòng ngủ đều có bốn giường ngủ cá nhân. Hai đứa con trai ở riêng một phòng, Con Thảo ngủ với mẹ.
            Trước khi chia tay, ông Luyện nói :
            “Cuối tuần sẽ đưa đi mua quần áo.”
            Bà Luyện giữ im lặng với một vẻ chịu đựng.
            Vì mệt mỏi sau một cuộc hành trình dài, mấy đứa nhỏ leo lên giường ngủ ngay. Bà Luyện tuy cũng mệt nhưng không buồn ngủ. Bà ngồi bên cửa sổ thẫn thờ nhìn xuống bãi đậu xe. Tâm trí bà lan man rồi dần dần đi ngược về dĩ vãng…
            Bà Luyện, tên con gái là Ngọc Lan, kết duyên vói ông Luyện khi bà là một thư ký đánh máy cho một sở tư ở Saigon. Lúc đó ông Luyện là chủ sự phòng làm việc của bà. Gia đình không giầu, nhưng phong lưu, có đôi chút dư dả vì bà căn cơ, tần tiện. Khi vợ chồng bà có đứa con thứ ba thì cộng sản chiếm miền Nam. Cuộc sống trở nên khó khăn vì cả hai cùng thất nghiệp. Lúc đó cả miền Nam sôi sục vì phong trào vượt biên trốn cộng sản. Ông bà Luyện cũng tính tới chuyện đó, nhưng có hai vấn đề phải giải quyết. Thứ nhất, ông bà không đủ vàng để đi cả gia đình. Thứ hai, con Thảo còn nhỏ quá, không thể đưa nó ra biển dù có người sẵn sàng cho mượn vàng để đóng cho chủ ghe. Thế là ông Luyện đi một mình. Hai ông bà hẹn sẽ gặp lại nhau sau hai năm nếu ông tới được bến bờ tự do. Ông lên đường vào một đêm giữa thasng 3 âm lịch. Lúc đó trong dân gian có câu truyền tụng ”Tháng ba bà già đi biển”, ý nói vào tháng này sóng yên bể lặng. Ông đi được bốn ngày thì bà được tin thuyền của ông đã ra thoát hải phận quốc tế, nghĩa là không bị kẹt vấn đề an ninh. Rồi một tháng sau, bà nhận được thư ông gửi từ một trại tỵ nạn ở Mã Lai. Trong thư, ông cho biết ông đã được phái đoàn Mỹ nhận. Trong vòng sáu tháng ông sẽ được đi Mỹ định cư. Như vậy, sau hai năm ông sẽ có thể làm giấy tờ bảo lãnh cho vợ con sang đoàn tụ. Giấc mơ được đoàn tụ với chồng trên đất Mỹ khiến bà háo hức chờ đợi…Nhưng hai, rồi ba năm qua, bà không nhận được giấy tờ bảo lãnh. Thư từ của ông cũng mỗi lúc một thưa. Không những thế, tiền bạc ông gửi về giúp gia đình cũng không đều, rồi đến năm thứ ba thì ngừng luôn. Thư bà gửi đi không có hồi âm. Khi thấy lũ con bắt đầu thiếu thốn, bà đành liều ra chợ trời buôn bán lặt vặt để tạm sống nheo nhóc cho qua ngày.
            Một hôm, đứa con gái út của bà bị bênh phải đưa vào nhà thương cấp cứu. Ngoài số thuốc bình thường của nhà thương, bà phải mua một vài loại thuốc trụ sinh ở chợ tròi. Bà rất lúng túng vì không đủ tiền. Nhìn con nằm sốt li bì, tính mạng bị đe dọa, bà chỉ biết khóc sụt sùi. Biết vay tiền ai bây giờ để mua thuốc cứu con ? Một ông y tá thấy vậy thì rủ lòng thương, bèn đi mua thuốc để tiêm cho con bà. Nhờ vậy, nó thoát chết. Cảm động trước lòng tốt của ông, bà coi ông như một người bạn tốt. Tình bạn mỗi ngày thêm đằm thắm rồi trở thành tình yêu lúc nào không hay. Ông lén vợ lo cho bốn mẹ con bà được sống đầy đủ.
            Khi nghe tin vợ đã có người yêu, ông Luyện đã định không bảo lãnh cho mẹ con bà sang Mỹ. Nhưng rồi ông đổi ý vì nghĩ đến tương lai của lũ trẻ. Thật ra, chính ông cũng đã có người đàn bà khác. Ngay từ khi mới đến đảo tỵ nạn ông đã dan díu với một người đàn bà trẻ, chồng chết trong trại tù cải tạo, chưa có con. Hai người may mắn cùng được định cư ở Hoa Kỳ. Chính vì thế, ông lần lữa không bảo lãnh cho vợ con sang đoàn tụ ngay. Nhưng dù sống với người mới ông vẫn chưa hợp thức hóa để thành vợ thành chồng vì ông còn nhớ tới lũ con nhỏ. Rồi khi ông biết tin vợ có người tình, ông càng phân vân hơn.
            Một hôm, biết ông khó xử về việc bảo lãnh gia đình, bà Hoa, vợ mới của ông Luyện, góp ý :
            “Theo em, anh cứ bảo lãnh cho trọn tình trọn nghĩa. Sau đó, anh với chị thẳng thắn gỉai quyết dứt khoát với nhau. Hơn nữa, anh không thể bỏ rơi các cháu được.”
            Thấy bà nói có lý, ông xúc tiến việc bảo lãnh ngay. Vì thế, khi hai vợ chồng gặp lại nhau sau bảy năm xa cách mà không vui.
            Sau khi suy nghĩ kỹ, bà Luyện cho rằng bà không có lỗi. Bà đã kiên nhẫn chờ đợi, nhưng chính ông đã bỏ rơi bốn mẹ con bà để vui thú với mối tình mới. Rồi vì hoàn cảnh đưa đẩy, bà mới phải liên lạc thân mật với ông Thạnh. Bà không là người làm tan vỡ tình gia đình, chính ông mới là kẻ phụ bạc. Ðáng lẽ ông phải hòa dịu để che giấu lỗi của mình, vậy mà ông còn vênh váo trách móc bà. Thế rồi bà quyết định đối chất với ông. “Lành thì làm gáo, vỡ làm môi” bà thầm nghĩ như vậy. Bà gọi điện thoại cho ông, đòi gặp ông ngay. Nhưng ông hẹn buổi tối vì đang ở sở làm. Nhưng ông lại không giữ đúng lời hứa, lần lữa mãi đến cuối tuần mới cùng bà Hoa tới.
            Vừa mời hai người vào nhà, chưa kịp mời ngồi, bà đã lên tiếng trách ông ngay :
            “Ông có biết ông chính là người đã làm tan nát gia đình không ?”
            Ông Luyện bị bất ngờ nên lúng túng nhìn bà chằm chặp mà không nói nền lòi. Bà Hoa cũng ngạc nhiên trước thái độ hung hăng của bà Luyện.
            “Khi ông vượt biên, bà Luyện tiếp, nhà không đủ tiền, tôi phải đi vay đi mượn để đóng cho chủ ghe. Ông hứa khi được định cư ở bất cứ nước nào cũng làm giấy tờ bảo lãnh cho bốn mẹ con tôi sang đoàn tụ. Thế rồi ông quên lời hứa. Chờ đợi lâu, không có tiền đẻ sống, tôi phải bỏ con thơ ở nhà để buôn bán chợ trời. Khi con Thảo bị bệnh nặng, tôi không có tiền mua thuốc, người ta giúp đỡ tôi cứu sống nó. Một mặt ông bỏ rơi mẹ con tôi, một mặt người ta giúp đỡ tận tình, làm sao tôi không cảm động cho được. Bây giờ ông lên mặt trách tôi không chung thủy. Ông hãy sờ gáy ông xem ai là người phụ bạc trước ?”
            Ông Luyện đúng chết trân, không thốt được một lời. Bà Hoa cũng giữ im lặng, nhưng trong thâm tâm bà công nhận bà Luyện có lý. Ngừng một chút, bà Luyện tiếp :
            “Tôi mời ông đến đây để báo cho ông biết tôi sẽ về lại Việt Nam. Ông đã nói chỉ vì tương lai của ba đứa nhỏ mới bảo lãnh bốn mẹ con tôi sang Mỹ, vậy tôi xin trao cho ông ba đứa nhỏ để ông nuôi nấng, dạy dỗ cho chúng có tương lai.”
            Bà vừa dứt lời, từ trong phòng ngủ, con Thảo nói vọng ra :
            “Con về Việt Nam với má cơ.”
            Tức thì hai anh chị nó về hùa với nó ngay.
            Ông Luyện vẫn giữ im lặng vì không biết đối đáp ra sao. Bà Hoa nhẹ nhàng lên tiếng :
            “Em xin có ý kiến như sau. Chị và các cháu cứ ở lại Mỹ đi. Ðã sang được đến đây mà quay trở về thì uổng quá.”
            Bà Luyện thầm công nhận đề nghị hợp lý, nhưng không nói gì.
            Mấy phút sau, bà Hoa lại lên tiếng, nhưng lần này có giọng ngập ngừng :
            “Ðàng nào thì…thì cũng không thể…hàn gắn được nữa…em có ý kiến này…để chị dễ giải quyết chuyện tương lai của chị…Anh Luyện sẽ xin ly dị với chị… Nhưng em xin bảo đảm ảnh sẽ giúp chị cho đến ngày chị và các cháu có cuộc sống ổn định.”
            Ông Luyện bỗng nói chêm vào :
            “Tất nhiên tôi không bỏ đói con tôi…”
            Nhưng ông chưa dứt lời, bà đã ngắt :
            “Vì ông đã bỏ đói chúng nó mới ra nông nỗi này.”
            Ông lại cứng họng, vẻ mặt ngượng ngùng. Bà Hoa nhỏ nhẹ nói với ông :
            “Anh cứ để mặc em nói chuyện với chị…Ðàn bà với nhau dễ hiểu nhau hơn.”
            Ngừng một chút, bà Hoa tiếp :
            “Khi đã ổn định, chị có thể bảo lãnh anh Thạnh sang đoàn tụ với chị…”
            Bà chưa dứt lời, bà L:uyện đã ngắt :
            “Tại sao tôi phải bảo lãnh ông Thạnh ? Tôi việc gì phải đoàn tụ với ông ấy. Ông ấy với tôi có là vợ chồng đâu mà đoàn tụ với chả xum họp ? Tôi ăn nàm với ông ấy chỉ là một cách đẻ trả ơn mà thôi. Người ta bỏ tiền ra cứu con tôi sống sót, tôi không có tiền để trả lại người ta thì phải đem thân ra…mà thôi. Cũng như mấy cô gái điếm chỉ vì đồng tiền mà ngủ với khách làng chơi, đâu có yêu với thương gì ai.”
            Câu nói sỗ sàng của bà làm bà Hoa kinh ngạc trố mắt nhìn mà không thốt được một lời. Trong khi đó, mặt ông Luyện tím ngắt lại. Ðúng là một lời nguyền rủa, sỉ nhục quá nặng đối với ông. Chồng mà để vợ phải đi làm điếm nuôi cho con cái được sống sót thì người chồng đó còn mặt mũi nào ngước nhìn đời nữa. Nhưng ông thầm công nhận bà nói đúng. Chính vì ông đã bỏ rơi vợ con, chứ không phải bà là người hư hỏng. Ông đành dịu giọng hỏi :
            “Vậy bây giờ bà muốn gì ?”
            Thấy chồng đã chịu thua, bà không nỡ làm khó dễ ông nữa nên lắc đầu :
            “Tôi chả muốn gì hết. Bây giờ các con đã sang được đây, đã gặp bố, tôi an tâm rồi. Tôi giao con cho ông, rồi tôi sẽ vào chùa tu. Cuộc đòi tôi thế là mãn nguyện.”
            Bà quay sang bà Hoa, dịu dàng nói :
            “Xin chị thương các cháu, dạy dỗ các cháu nên người…”
            Bà Hoa nắm lấy tay bà Luyện, thân mật hứa :
            “Xin chị cứ an tâm, em coi các cháu như con em. Nhưng…nhưng…chị việc gì phải đi tu…”
            Bà Luyện khẽ thở dài :
            “Nói thật với chị, tôi cũng chán đời rồi. Sở dĩ tôi còn sống đến ngày nay cũng chỉ vì mấy đứa nhỏ thôi. Bây giờ tôi đã trông thấy tương lai của chúng sáng sủa thì không còn gì vướng mắc tôi nữa. Tôi nghĩ rằng kiếp trước tôi vụng tu nên kiếp này gặp nhiều đau khổ, gian truân. Nay đã đến lúc tôi có thể lo cho kiếp sau.”
            Bà Hoa khẽ thở dài :
            “Nếu chị đã quyết, em sẽ đưa chị tới thăm một ngôi chùa toàn các sư nữ. Có điều hơi xa. Nhưng đã đi tu thì xa gần đâu có quan trọng. Em tin là chị sẽ thích ngôi chùa này. Toàn các vị chân tu cả.”
            Bà Luyện vui vẻ :
            “Nếu được như vậy, tôi rất cảm ơn chị.”
                                                                                         TQK
                                                                                         (9-2011)      

Thursday, September 8, 2011

HỒ XUÂN HƯƠNG
   và NHỮNG NGHI VẤN
                                                                                                 Tạ Quang Khôi
N
gười đầu tiên dùng phân tâm học của Freud trong văn chương Việt Nam có lẽ là ông Nguyễn Văn Hanh. Năm 1936, ông Nguyễn viết trong cuốn HỒ XUÂN HƯƠNG : TÁC PHẨM, THÂN THẾ VÀ VĂN TÀI (xuất bản ở Saigon) rằng nữ sĩ họ Hồ là một người xấu xí, đen đủi, bị khủng hoảng về tình dục. Ông còn gọi thơ bà là thơ “hiếu dâm”. Đến cuối thập niên 1940 (hay đầu 50 ?) Trương Tửu Nguyễn Bách Khoa, trong cuốn KINH THI VIỆT NAM cũng cho rằng nữ sĩ họ Hồ có những dồn nén tình dục.
Nhưng vào thời gian đó, chưa ai nghĩ rằng thơ Hồ Xuân Hương không phải do chính nữ sĩ họ Hồ sáng tác. Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm còn viết một cuốn sách ca tụng bà là một nhà thơ cách mạng (Bốn Phương xuất bản năm 1950 ở Hà Nội). Đến cuối năm 1952, một nhóm người nêu giả thuyết không thực sự có một nữ sĩ tên là Hồ Xuân Hương. Thơ họ Hồ là thơ của nhiều nhà nho ẩn danh muốn giải tỏa những dồn nén tình dục của mình. Nhóm chủ trương “không có Hồ Xuân Hương” nêu lý do : trong thơ họ Hồ thường nhắc tới Chiêu Hổ, tức Phạm Đình Hổ, tác giả “Vũ Trung Tùy Bút”. Thế mà trong tác phẩm này, họ Phạm không hề nhắc tới người đã từng xướng họa thơ với mình. Rồi họ kết luận : không có nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Chúng tôi e rằng nếu chỉ dựa vào lý do đó – theo thiển kiến, nó thiếu tính chất khoa học, nên chưa đủ sức mạnh thuyết phục – mà quyết định một vấn đề rất quan trọng trong văn học sử thì e quá hồ đồ. Nhưng chủ trương đó cũng làm một số người phân vân, hoang mang.
Vào cuối thập niên 1950, Học giả Hoàng Xuân Hãn, trong một bài nghiên cứu, quả quyết rằng thực sự có một nữ sĩ tên là Hồ Xuân Hương trong văn học cổ Việt Nam. Tuy nhiên, học giả họ Hoàng xác nhận rằng thơ Hồ Xuân Hương có những bài không phải do chính nữ sĩ sáng tác.
Chúng tôi nghĩ rằng Hoàng tiên sinh có lý. Có thể có một số người không hiểu tại sao các nho sĩ, văn hay chữ tốt, làm thơ lại không dám nêu tên mình mà phải núp dưới bóng người khác. Thật ra, điều này cũng không khó giải thích.
Trước hết chúng ta phải tìm hiểu nền giáo dục Khổng-Mạnh. Đó là một nền giáo dục khắt khe, nhằm đào tạo một con người toàn vẹn, cả về đức độ lẫn tài năng. Nó đã đưa những người theo nó lên nấc thang cao nhất của một xã hội nặng về nông nghiệp : Sĩ, Nông, Công, Thương. Dường như sau “Cách mạng tháng Tám” (1945) người ta mới thêm một đảng cấp nữa, đó là “Binh”. Kẻ sĩ, nhà nho, là một lớp người được cả xã hội quý trọng, kính nể. Họ tiến lên thì làm quan giúp vua, giúp nước, giúp dân; lui về thì dạy học, vun trồng thế hệ mai sau. Đó là “Tiến vi quan, thoái (hay đạt) vi sư.” Vì được tất cả mọi người trong xã hội kính nể, họ phải làm gương tốt cho thiên hạ noi theo. Muốn thế, nhà Nho phải luôn luôn giữ cho lòng được ngay thẳng, trong sáng
Để giữ cho lòng được ngay thẳng, trong sáng, họ chỉ nghĩ tới những điều cao đẹp, nói những điều hay để người khác nghe theo. Do đó, trong Hán tự, chữ CÁT  (tốt lành) được ghép hai chữ SĨ và KHẨU ( ) nghĩa là những gì xuất phát từ miệng của kẻ sĩ đều tốt lành. Nho giáo khắt khe như vậy nên quả thật rất ít người theo đúng được, trừ những bậc thánh hiền. Con người ta dù ở địa vị đáng tôn kính nào vẫn là những con người với tất cả mọi nhu cầu, cả về vật chất lẫn tinh thần. Con người sẽ mất thăng bằng nếu chỉ thiên về một phía. Các nhà nho, dù ngày đêm “tụng” sách Thánh Hiền cũng không thể thoát ra khỏi thông lệ đó. Nho sĩ cũng là con người với tất cả “thất tình”. Họ cũng có những thèm khát vật chất như mọi chúng sinh khác. Nhưng họ phải giấu kín những gì lễ giáo cho là thấp hèn. Ngay cả vợ chồng cũng không được bộc lộ những thèm muốn về xác thịt, phải “tương kính như tân” (kính trọng nhau như khách). Đã “kính trọng nhau như khách”, vợ chồng không thể nói với nhau những lời xuồng xã, thô tục như những kẻ phàm phu. Trước mắt quần chúng, nhà nho càng phải nghiêm chỉnh hơn, lúc nào cũng phải nhớ rằng mình đang ở một địa vị cao quý nhất xã hội, “nhĩ mục quan chiêm”. Nhưng họ nghiêm chỉnh không có nghĩa là họ không có những thèm muốn về xác thịt. Thật ra, họ cũng muốn thỏa mãn những nhu cầu đó như mọi người bình thường khác.
Đối với những người đã hiển đạt  (thi đỗ, làm quan, giầu có) thì dù có phải coi vợ như khách, họ vẫn có cách giải quyết ổn thỏa. Họ có thể “nạp thiếp”,nghĩa là lấy vợ nhỏ, nàng hầu (trai năm thê, bảy thiếp…). Đối với vợ lẽ con thêm, họ không cần phải giũ lễ “tương kính như tân”.
Còn những nho sĩ chưa hiển đạt, chưa có đủ phương tiện để “nạp thiếp”, họ phải giấu kín những thèm muốn trong lòng để rồi chúng dần dần biến thành những dồn nén nhức nhối, khó chịu. Con đường giải tỏa tạm thời của họ là làm thơ, lén lút đưa cho nhau thưởng thức. Họ có thể là những người “văn chương chữ nghĩa bề bề”, thơ họ không phải là loại thơ “con cóc”. Rồi nhân đã có người nổi tiếng về lối thơ “dồn nén”, họ “đổ thừa” những bài thơ mới sáng tác của họ cho người đó. Thế là họ vẫn giữ được tiếng nhà nho ngay thẳng, lòng sáng như gương. Trong một bài hát nói tả một anh giả điếc, Nguyễn Khuyến đã có hai câu thơ chữ Hán mà mọi người cho rằng Cụ muốn ám chỉ thái độ nghiêm chỉnh giả tạo của một số nhà nho :
                                  “Tọa trung đàm tiếu nhân như mộc,
                                  “Dạ lý phan viên nhữ tự hầu.”
(Tạm dịch : Ngồi nói chuyện vui với mọi người thì như gỗ, đến đêm anh cũng leo trèo như vượn.)

Đến đây, chúng ta thử tìm hiểu cách phổ biến thơ  (nhất là thơ nôm, vì bị coi là “nôm na mách qué”, lại không phải là thứ văn tự được dùng trong thi cử) của cổ nhân Việt Nam. Các thi sĩ của ta ngày xưa không in thơ thành tập như các nhà thơ của thế kỷ 20. Có hứng thì làm thơ, nếu thấy hay, họ đưa cho bạn bè, người chung quanh cùng thưởng thức. Các nhà sưu tầm, nghiên cứu sau này đã mất rất nhiều thời giờ và công phu để gom góp lại. Tất nhiên chuyện “râu ông nọ cắm cằm bà kia” không thể tránh được. Do đó, trong văn học cổ Việt Nam, có nhiều trường hợp có những bài thơ có đến hai hoặc ba tác giả. Một thí dụ có liên quan đến hai nữ sĩ nổi tiếng trong văn học sử Việt Nam, vì cả hai cùng lấy chồng quan. Chuyện kể rằng : Một hôm, ông chồng quan đi vắng, bà vợ đăng đường xử án thay chồng. Một người đàn bà tên Nguyễn thị Đào, đệ đơn xin lấy chồng (có sách nói xin bỏ chồng để lấy chồng khác), bà quan liền phê vào đơn như sau :
                                            “Phó cho con Nguyễn thị Đào,
                                       “Nước trong leo lẻo cắm sào đợi ai ?
                                            “Chữ rằng : Xuân bất tái lai,
                                       “Cho về kiếm chút kẻo mai nữa già.”
Có sách cho rằng mấy câu thơ trên của Hồ Xuân Hương (khi bà làm lẽ ông phủ Vĩnh Tường), có sách ghi tên tác giả là Bà Huyện Thanh Quan. Người ta thắc mắc người vợ lẽ trong xã hội cổ xưa có dám tự tiện đăng đường xử án thay chồng không, khi chính mình còn chịu cảnh “kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng” ?  Nhưng nếu xét về “văn phong”, ta thấy hợp với “khẩu khí” của Hồ Xuân Hương hơn.
Nhà thơ trào phúng Trần Tế Xương của Non Côi, sông Vị đã làm rất nhiều thơ chế diễu thói hư tật xấu (có khi chỉ xấu với riêng ông) cuả người trong tỉnh Nam Định. Hầu như mọi người đều đã đọc và lưu trữ thơ ông, nhưng con cháu ông lại không có lấy một bản.
            Về trường hợp thơ Hồ Xuân Hương, ta phải công nhận khó mà phân biệt bài nào do chính nữ sĩ sáng tác, bài nào không phải. Có người đã đề nghị một cách “nhận diện” như sau.
Khi người đàn ông bị dồn nén về tình dục, người đó sẽ nghĩ nhiều đến người đàn bà và thân thể của phái yếu. Người ta kể rằng một nhà cách mạng Việt Nam chống Pháp, khi bị tù quá lâu, đã mơ tưởng đến “nắm thuốc lào”.Vì thế, những thơ nói về thân thể người đàn bà, như “Vinh cái quạt” (Vành ra ba góc da con thiếu, Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa) chưa chắc đã do Hồ Xuân Hương sáng tác.  Ngược lại, khi người đàn bà bị dồn nén, người ấy phải nghĩ đến những cái hấp dẫn của người đàn ông, như bài “Vịnh ông quan:” :
                       ”Đầu đội nón da loe chóp đỏ,
                       “Lưng đeo bị đạn rủ quai thao”
Nhưng chúng tôi nghĩ rằng điều quan trọng nhất là chúng ta có một nữ sĩ tài ba đã sáng tác những bài thơ tuyệt diệu cho đến nay chưa ai sánh kịp. Vậy chúng ta có nên tìm hiểu xem bài nào do chính nữ sĩ họ Hồ sáng tác, bài nào của những ai khác không ?.Hay tất cả đều là thơ Hồ Xuân Hương .
            Các Cụ ta ngày xưa đã có câu :”Cá vào ao ai, người ấy hưởng”. Đó là một điều rất hợp lý, không ai có thể chối cãi đuwjc.
                                                                                                            TQK