Thursday, April 18, 2013


  Khai bút (2012)




Năm tận tháng cùng buồn day dứt,
Dĩ vãng sao còn mãi vấn vương ?
Bạn cũ vài tên xa lác đác,
Ðứa thì đau ốm đứa tha phương.
Giao thừa gió nổi ngoài song lạnh,
Ngơ ngác năm canh chỉ một mình.
Từng bước xuân về nghe uể oải,
Tám mươi tuổi lẻ, xuân còn xanh ?


               (Giao thừa Nhâm Thìn)





                 Ước Mong


Buổi tối vào giường chỉ ước mong
Sáng mai không dậy nữa là xong.
Cuộc đời lắm nỗi buồn tê tái,
Tha thiết chi cho nát cõi lòng.
Xin cho tôi chết nhẹ nhàng
Ðừng đau ốm nặng, đừng mang tật nguyền.
Xin cho tôi chết bình yên,
Ngủ đêm không dậy là tiên về trời


Bao giờ tôi   chết                                                                        


Bao giờ tôi chết, xin đừng khóc
Ðể níu chân tôi vướng cỏi trần.
Xin hãy cười vui giờ vĩnh biệt,
Mừng tôi đã thoát nợ gian truân.


Bao giờ tôi chết hoa đua nở
Mừng đón tôi về lại cõi tiên.
Kiếp đọa nhân sinh vừa trả đủ,
Không còn vương vấn nợ trần duyên.




           Kiếp người


Ðời người, một kiếp phù sinh,
Nghiệp duyên như bóng với hình vấn vương.
Trải qua những nỗi đoạn trường.
Năm canh thao thức, lệ vương mắt buồn





              Khóc Anh Nguyễn Văn Phú


 Thôi thế là xong một kiếp người,
 Công danh, sự nghiệp, thoáng mây trôi.
 Anh đi vui dưới trời Tây Trúc,
 Buồn mãi long` em chẳng thể nguôi
     


 Montreal 24 tháng 2, 2013
 (Anh Phú mất 8 tháng Gieng âm lịch,
           Tức 17 tháng 2, 2013)         



Monday, March 4, 2013

NHÀ CÓ MA
                                        
                                        Truyện vui   TẠ QUANG KHÔI

D
ọn đến nhà này cả tuần hắn mới bắt đầu nghe như có người đi lại trong nhà. Hắn nghĩ tới lời báo trước khi mua căn nhà trong chúng cư này. Nhà để bảng bán đã lâu mà không ai chịu mua. Giá nhà mỗi ngày một sụt xuống một cách thảm hại, không bằng nửa giá những căn chung quanh. Chủ nhà chỉ muốn bán tống bán tháo cho rảnh nợ. Đã thay tới ba người giới thiệu nhà đất mà nhà vẫn trơ trơ ra đó. Khi bà giới thiệu nhà đất đưa hắn đến coi nhà, hắn ưng ý liền. Cái gì cũng còn tốt nguyên, có thứ còn mới toanh như cái tủ lạnh và cái máy rửa chén. Hắn ngạc nhiên hỏi bà "nhà đất" :
"Nhà ngon lành như thế này, lại ở khu thuận tiện đủ mọi bề, giá rẻ không bằng nửa các nhà khác, sao không ai chịu mua ?  Có khuyết điểm gì ?  Xin bà nói thiệt để tôi còn tính."
Bà "nhà đất" ngập ngừng khá lâu, rồi đáp :
"Theo luật, tôi không được nói dối khách hàng, vì sau đó, khi khám phá ra cái không ổn bên trong, quý vị có thể trả lại nhà mà chúng tôi phải chịu hết mọi phí tổn... Người ta nói...nhà này có ma...nên ai cũng sợ, nhất là những gia đình có con nít."
"À, ra thế !" Hắn gật gù. "Vậy, tôi không có vợ, không có cả con nít, trơ trọi có một thân một mình thì không sợ ?"
Bà "nhà đất" rụt rè :
"Tôi không dám có ý kiến gì hết. Mua hay không là tùy ông. Nhưng khi tôi đã nói thật hết mà ông vẫn cứ mua thì sau này ông không có quyền khiếu nại, thưa kiện gì hết."
Hắn cười :
"Tôi sẽ trả lời bà trong vòng một tuần. Để tôi nghĩ xem tôi có thể sống chung với ma không ?  Tôi cũng thuộc loại...ma mãnh lắm, có khi ma lại bỏ đi mất tiêu đấy."
Nghe hắn nói thế, bà "nhà đất" nghĩ rằng hắn sẽ không mua căn nhà này. Ai mà ở chung với ma với quỷ được.  Nhưng chỉ  mới có hai hôm, hắn đã gọi bà để yêu cầu bà xúc tiến các thủ tục mua nhà. Không những thế, vì  giá nhà quá rẻ, hắn không cần vay tiền ngân hàng, trả hết một lúc. Việc mua bán thật nhanh chóng, ngoài sức tưởng tượng của bà "nhà đất" và chủ nhà. 
Hôm ăn mừng nhà mới, hắn nói với bạn bè :
"Ai sợ ma, chứ tớ thì không.  Đến cộng sản là quỷ khát máu mà tớ còn coi như pha nữa là. Quỷ còn dữ và lưu manh hơn ma.  Chúng nó đánh lừa mình vào trại tù khổ sai bằng cách nói láo rằng đi học tập cải tạo trong vòng một tháng. Khi biết là bị lừa, tớ tìm cách vượt ngục ngay.  Cả cái tập đoàn quản giáo ngu hơn heo của chùng bị tớ lừa hết. Trốn thoát rồi, tớ đâu có dại mà về Saigon, tớ ra bờ biển ngay rồi tìm đường vượt biên. Bọn quỷ đỏ mà lúc nào mồm miệng cũng đầy máu me của người dân lành tớ còn không sợ, bây giờ chả lẽ lại sợ mấy em ma oắt con này ?  Rồi các cậu coi, ma sẽ phải cuốn gói mà đi để tớ sống phây phây."
Một người tò mò hỏi :
"Thế từ hôm dọn tới đây, cậu đã thấy gì chưa ?  Có em ma oắt con nào quấy phá chưa ? "
Hắn cười hì hì :
"Vì dọn nhà mệt quá, rồi vẫn phải đi làm, tớ cứ ngả lưng xuống là ngáo một mạch đến sáng. Chưa thấy em ma nào tới hỏi thăm. Mà cũng chưa thấy động tĩnh gì."
Nhưng sau một tuần được ngủ bù, hết mệt, hắn bắt đầu thấy có "động tĩnh". Đang ngủ, chợt thức giấc, hắn cảm thấy như có người đứng cạnh giường. Hắn mở mắt thì không thấy gì, ngoài một vài vệt sáng trên trần nhà từ ngọn đèn dưới đường hắt lên.        Tuy vẫn nói mạnh rằng không sợ, hắn cũng thấy rờn rợn,  hơi gai gai ở sống lưng. Dù cộng sản có là quỷ, chúng vẫn là những vật cụ thể, vẫn dễ đối phó hơn. Ma vô hình, chỉ cảm thấy mà không sờ mó, đụng chạm được. Hắn nằm im lặng, mở to mắt, đầu óc suy nghĩ thật nhanh xem nên đối phó cách nào.  Đánh lộn với nó ?  Có biết nó ở đâu mà đánh !  Hắn nghĩ tới roi dâu mà người ta vẫn đồn rằng trị ma rất hiệu nghiệm. Ở xứ Mỹ này, kiếm đâu ra cây dâu ?  Nước tiểu, đồ dơ ?  Càng không được, chỉ tổ làm nhà cửa hôi hám, dơ bẩn. Mà hắn cũng không tin ở điều bậy bạ đó. Hay là nhờ thầy pháp cúng kiếng đuổi tà, đuổi ma ?  Ôi, chuyện mê tín dị đoan ! Làm như vậy chỉ chứng tỏ cho mọi người biết mình bất lực trước "con ma oắt con" mà hắn trót huênh hoang coi thường.  Nghĩ ngợi một lúc, hắn ngủ thiếp đi lúc nào không hay.  Hôm sau, khi hắn thức giấc thì trời đã sáng rõ. Nhớ ngay đến chuyện ma đêm qua, hắn vội vàng đi quanh nhà để xem có gì thay đổi khác lạ không ?  Tất cả đều bình thường. Trong khi ngồi ăn điểm tâm, hắn chợt nhận ra rằng nếu quả thật đêm qua hắn đã gặp ma thì con ma này thuộc loại hiền lành, không quấy phá gì.  Nó chỉ muốn báo cho hắn biết là có sự hiện diện của nó trong căn nhà này. Như vậy, nó là loại ma có thể nói chuyện được. Bỗng hai tiếng "nói chuyện" làm hắn chú ý. Ừ nhỉ, hắn thầm nhủ, sao mình không thử nói chuyện với ma ?  Mà "nói" bằng cách nào đây ?  Tiếng Việt hay tiếng Anh ?  Ma Việt hay ma Mỹ ?  Mà cũng có thể là ma xứ khác vì ở cái nước có nhiều chủng tộc này làm sao mà biết chắc được.
Trong lúc lái xe đến sở, hắn bỗng nghĩ tới cầu cơ. Hắn đã nhiều lần, khi còn ở trong nước, thấy người ta "nói chuyện" với linh hồn người đã khuất bằng cách đó. Nhưng hắn chả bao giờ tin cái chuyện mà hắn cho là bịa đặt nhằm mục đích giải trí. Thật ra, cũng có đôi lần hắn nửa tin nửa ngờ vì người "ngồi đồng" không hề biết làm thơ lại có thể viết ra nhiều câu thơ tuy chẳng hay ho gì cũng vẫn có vần có điệu đàng hoàng. Nếu bảo rằng người đó đã làm thơ thì thật đáng ngờ.  Chỉ có một điều hắn tin chắc là có linh hồn. Bây giờ, sau một đêm "tiếp xúc" với một bóng ma vô hình thì niềm tin đó càng mạnh hơn.
Câu chuyện ma tạm thời bị hắn quên đi trong những giờ bận rộn của sở. Đến khi ra xe về nhà vào buổi chiều hắn mới chợt nhớ lại. Việc đầu tiên trước khi ăn cơm, hắn tìm một miếng bìa cứng lớn, nắn nót viết hai mươi lăm chữ cái, từ A đến Z. Theo hắn biết, miếng gỗ dùng để di chuyển trên những hàng chữ là một miếng gỗ lấy từ mảnh ván thiên của một quan tài mới được bốc mộ. "Như vậy mới linh!:" Có người bảo hắn thế. Bây giờ đào đâu ra miếng gỗ đặc biệt đó, hắn thầm nghĩ. Nhìn quanh nhìn quẩn, cuối cùng hắn đành chọn cái thước gỗ mà từ lâu vẫn bị bỏ quên trong ngăn kéo bàn làm việc. Nhưng cái thước dù chỉ có hai mươi phân tây cũng quá dài để làm miếng gỗ cầu cơ. Thế là hắn phải tìm cách cưa ngắn, chỉ lấy một mẩu khoảng ba phân vuông. Sơ sơ thế mà cũng mất ngót một tiếng đồng hồ. Hắn dẹp hết đồ trên mặt bàn cà phê trong phòng khách, bầy bàn cầu cơ lên đó, sẵn sàng tiếp chuyện với ma.  Hắn nhìn "tác phẩm" của mình với một vẻ đắc ý.
Sau khi tắm rửa và ăn tối, hắn ngồi cạnh bàn cầu cơ, chờ đợi. Nhưng hắn chờ mãi, chả thấy ma đâu. Đến gần mười giờ thì hắn bắt đầu buồn ngủ. Hắn chợt nhớ rằng theo những người có kinh nghiệm về thế giới vô hình, ma chỉ hiện ra từ nửa đêm trở đi, nghĩa là sau giờ Tý. À, nếu thế, hắn tự nhủ, tối nay mình ngủ trên cái sô pha này, có triệu chứng gì là có thể đối thoại ngay được. Hắn vào phòng ngủ lấy gối chăn ra phòng khách. Hắn tắt hết đèn trong nhà, trừ một ngọn nhỏ ở lối cửa ra vào . Vừa ngả lưng xuống, hắn ngủ thiếp đi ngay.
Không biết vào mấy giờ giữa đêm, hắn chợt thức giấc và liền cảm thấy có người đứng cạnh. Tinh thần đã được sửa soạn trước, hắn bèn ngồi dậy, nói thầm trong óc :    "OK !  Nào mình nói chuyện.."  Rồi hắn đặt tay lên miếng gỗ trên bàn cầu cơ. Nhưng hắn chưa kịp đặt câu hỏi, miếng gỗ đã tự động di chuyển :"OK ! Mình nói chuyện." Hắn giật mình, lặng người đi mấy giây. Như vậy, ma đọc được ý nghĩ của hắn. Chưa định thần được, hắn đã thấy tay hắn đẩy miếng gỗ lướt trên các hàng chữ :
"Đừng có sợ. Tôi không phải là ma." 
Bây giờ, hắn đã lấy lại bình tĩnh, hỏi thầm trong óc :
"Vậy hồn là người Việt Nam ?"
"Không, khi đã ra khỏi cuộc sống, không còn lệ thuộc vào chủng tộc nữa."
"À, ra thế ! Xin cho biết tên lúc còn sống ?" 
"Không nhớ tên vì tên tuổi chỉ là cái phụ thuộc bên ngoài, không nhất định, không chắc chắn. Bằng cớ là một người có thể có nhiều tên. Khi ra khỏi cuộc đời, chỉ còn lại linh hồn,  cái tinh túy của cuộc sống, những phần phụ thuộc đều tự nó biến đi. "
"Vậy hồn ở nhà này lâu chưa ?" 
"Không có gì gọi là lâu với chóng. Thời gian chỉ được kể tới khi còn sống ở cõi đời vì đó là sự xếp đặt của con người. Khi đã ra khỏi cuộc sống, hồn không còn lệ thuộc vào những sự xếp đặt đó nữa."
Hắn có vẻ không đồng ý, liền hỏi :
"Nếu không có thời gian, không có giờ giấc, tại sao hồn chỉ xuất hiện sau nửa đêm ? Tức là hồn cũng biết lúc nào sáng, lúc nào đêm."
"Nói vậy là sai. Trong thế giới vô hình này, làm gì  có đêm và ngày. Lúc nào cũng như lúc nào."
"Vậy sao hồn không... dám xuất đầu lộ diện giữa ban ngày ban mặt ?  Cứ phải chờ đến nửa đêm mới quấy phá người sống ?"
"Thật ra, hồn lúc nào cũng quanh quẩn ở đây, nhưng người sống không thể nhận biết là vì muốn tiếp xúc với thế giới vô hình đầu óc người sống phải trong sáng, không bị vẩn đục vì những tạp niệm, những lo lắng, những băn khoăn hàng ngày."
Hắn vẫn nghi ngờ :
"Vậy sao có những người không cần nghỉ ngơi để lòng được thanh tịnh vẫn có thể gặp...ma ? Cũng có người gặp ma ngay khi vừa chập tối. Hồn giải thích làm sao những chuyện đó."
Hắn nghe như hồn ma cười :
"Như vậy chính người đã tự mâu thuẫn. Lúc thì nói nửa đêm lúc thì nói chập tối. Riêng điều đó đã chứng tỏ hồn lúc nào cũng lẩn quất đâu đây, chỉ người không nhận biết thôi. Còn những người không cần nghỉ ngơi để lòng thanh tịnh vì lòng họ đã trong sáng sẵn. Những người càng ít học càng ít suy nghĩ càng dễ cảm thông với vạn vật. Học hành, suy nghĩ làm đầu óc con người phức tạp, rối ren, nên xa rời cái gốc của mình, tức là thiên nhiên, vạn vật."
Hắn thấy lời giải thích vẫn chưa ổn, nhưng không biết cãi làm sao nên đành giữ im lặng một cách ấm ức.  Rồi hắn chợt hỏi :
"Hồn là đàn ông hay đàn bà ?"  
            "Sau khi ra khỏi cõi đời, không còn là đàn bà hay đàn ông nữa. Chỉ phân biệt nam hay nữ khi còn ở trần thế. Bây giờ hồn thuộc  loại vô tính, không là giống cái cũng không giống đực."
"Lại đực hay lại cái ?" Hắn lại cảm thấy như có tiếng cười. Cuộc nói chuyện mỗi lúc một trôi chẩy hơn. Rồi đến cái độ hắn không cần xử dụng bàn cầu cơ nữa. Mỗi lần hắn có một ý nghĩ  thì liền ngay trong óc hắn có câu trả lời.
"Không lại đực mà cũng không lại cái."
"Thế là cái giống gì ?"
"Xin giải thích cho rõ hơn."
"OK ! Xin nghe."
"Hơi dài dòng, lôi thôi. Hãy kiên nhẫn." 
Hắn không nghĩ gì nữa, chờ đợi.
"Con người khi sinh ra đều bị ảnh hưởng của vũ trụ tuyến hay cũng có thể coi là những dòng điện đan kết chằng chịt trong vũ trụ. Những dòng điện đó có âm và dương. Người nam thì nhiều dương hơn âm và ngược lại. Có người cho rằng những luồng điện đó là những dây duyên hay dây nợ buộc lấy con người. Muốn thoát ra khỏi các cuộc sống nối tiếp nhau để sang cõi khác, con người làm sao cởi bỏ hết được những sợi dây trói buộc mình, trở thành không âm không dương như hồn bây giờ." 
Hắn chợt ngắt :
"Nếu tôi không lầm, mỗi cuộc sống mà hồn nói tới chính là một kiếp. Có phải vậy không ?"
"Gọi là kiếp hay một lần sống cũng chỉ một cách nói."
"Vậy, xin gọi là kiếp cho dễ hiểu vì tiếng đó đã quen với mọi người." 
"Cũng được. Một kiếp người !" 
"Muốn cởi bỏ hết các sợi dây điện trói buộc mình, tức là không bị ảnh hưởng của vũ trụ tuyến nữa, phải làm cách nào ?"
Hồn ma không trả lời ngay.  Dường như có cái gì khó khăn làm nó phải tính toán, suy nghĩ. Chờ lâu, hắn sốt ruột hỏi thêm :
"Hồn còn ở đó hay đã biến đi đâu mất tiêu rồi ?"
"Vẫn ở bên cạnh người đó."
"Vậy sao không chịu nói gì nữa ?"
Hồn ma ngập ngừng :
"Vì...vì khó nói để người hiểu...Muốn thoát khỏi sự ràng buộc của các sợi dây trong vũ trụ, ta phải...ta phải...làm sao đừng vướng mắc..."
Hắn sốt ruột :
"Vướng mắc cái gì ?"
Hồn ma trả lời một cách khó khăn :
"Vướng mắc những chuyện, những người chung quanh mình để nó biến thành những trói buộc, làm mình không thoát đi được."
Hắn suy nghĩ một lát, rồi hỏi :
"Có phải hồn muốn nói đến những duyên, những nợ trói buộc con người ta không ?"
Hồn ma có giọng vui mừng :
"Đúng là như vậy."
Hắn cũng thấy vui, nên nói tiếp ngay :
"Thế tức là phải tu đó ! Tu, theo đạo Phật, là chỉ làm những điều tốt, không làm ác để có thể gây nên nghiệp, tức là món nợ phải trả ở kiếp sau."
Hồn ma nói ngay :
"Làm tốt cũng không được vì sẽ tạo nên...cái mà người gọi là duyên. Kiếp sau vẫn phải trả cái duyên đó. Duyên hay nợ đều là những ràng buộc để con người cứ luẩn quẩn mãi với cõi sống."
Hắn thốt kêu thành tiếng :
"Khó quá !  Khó hơn là tu !"
"Tu theo nghĩa mà con người hiểu chỉ là bước đầu tiên cởi bỏ những ràng buộc."
Hắn thở dài :
"Nếu vậy thì cả trăm kiếp mới cởi bỏ xong. Thôi thì cứ sống bình thường là tốt  nhất, miễn không hại ai, không gây thù gây oán với ai...Được như vậy cũng khó quá rồi..."
Hồn ma giảng giải thêm :
"Khi mình còn bị trói buộc, điện trong người mình còn mạnh, tự nó hút các dòng điện trong vũ trụ. Vì thế, cứ phải sống hết kiếp này đến kiếp khác."
Hắn chợt nghĩ :
"Đó là luân hồi." 
Thấy hồn ma không nói gì nữa,hắn lại hỏi :
"Cuộc sống chỉ có ở trái đất này hay còn ở nhiều hành tinh khác nữa?  Hình như Đức Phật có nói tới ba ngàn thế giới."
"Điều đó khó mà biết được, vì khi ra khỏi cuộc sống là quên hết.  Sau đó, nếu còn duyên nợ, tức là còn nhiều sợi dây điện trói buộc mình, lại phải đi vào kiếp khác ngay. Cứ liên tục mãi, không thể dứt ra được."
Hắn hỏi  :
"Vậy sao bây giờ hồn không đầu thai kiếp khác và còn nhớ được kiếp vừa qua?"
Hắn phải chờ khá lâu mới thấy ma trả lời :
"Con người chỉ  biết rằng có duyên và nợ ràng buộc lấy mình, nhưng không biết rõ duyên ra sao và nợ thế nào.  Ngay cả khi đã trả nợ hay đáp lại cái duyên con người cũng không biết hết hay còn."
"Hồn ở đây lâu chưa ?  Mấy chục năm hay mấy trăm năm ?"
"Trong cõi này không có thời gian nên không tính năm, tháng."
"Vậy tính bằng gì ?" 
"Không tính gì hết vì không lâu mà cũng không chóng." 
Đến đây hắn bỗng thấy buồn ngủ , bèn ngáp một cái dài rồi nhìn lên đồng hồ treo tường. Hắn giật mình thấy đã gần ba giờ sáng.  Như hiểu ý hắn, hồn ma nói :
"Chúng ta sẽ gặp lại vào lúc khác." 
Hắn bèn ngả lưng xuống ghế dài và ngủ thiếp đi ngay.
Sáng hôm sau, hắn dậy hơi trễ và phải uống mấy ly cà phê thật đậm mới đủ tỉnh táo để làm việc cho sở.  Buổi tối, vừa ăn cơm xong, hắn đi ngủ ngay vì sợ nửa đêm phải thức giấc nói chuyện với ma.  Nhưng đêm đó và nhiều đêm sau, ma không đánh thức hắn. Mãi đến nửa tháng sau, khi hắn đã thấy tỉnh táo, khỏe khoắn, ma mới trở lại. Hắn hiểu rằng ma muốn để hắn nghỉ ngơi. Thế là hắn có cảm tình với ma.  Khi biết ma đã ở cạnh, hắn liền bắt đầu :
"Cảm ơn hồn đã cho tôi được nghỉ ngơi một thời gian. Thế mà từ xưa đến nay, ai cũng nói là ma quỷ thích quấy phá người."
Hồn ma cười :
"Thật ra, hồn không quấy phá mà cũng không có đủ khả năng làm hại người.  Chính người cứ tưởng như vậy nên mình lại làm mình sợ."
"Có phải hồn muốn nói 'thần hồn nát thần tính' không ?"
"Hồn chỉ biết nói một cách dễ hiểu chứ không biết dùng những chữ khó khăn, cao siêu."
Hắn ngập ngừng một chút rồi hỏi :
"Hồn định ở đây lâu hay chóng ?  Bao giờ thì hồn bỏ đi nơi khác ?"
"Như hồn đã một lần nói, lâu hay chóng hồn không tự quyết định được, tất cả đều phụ thuộc vào duyên và nợ. Hết duyên, hết nợ thì tự nhiên đi nơi khác."
Hắn nửa đùa nửa thật :
"Tôi với hồn có duyên hay có nợ ?  Nếu nợ thì ai nợ ai ?...Tôi muốn hồn cứ ở đây mãi với tôi."
"Hồn cũng không biết là có duyên hay nợ với người, nhưng hồn không tin sẽ ở mãi đây với người được...Mà người không sợ ma hay sao lại thích ở chung với ma ?"
"Trước kia thì cũng hơi sợ thiệt, bây giờ thấy ma lành quá nên có cảm tình."
Hồn ma cười :
"Lần đầu tiên có người nói là có cảm tình với ma."
"Đây cũng là lần đầu tiên tôi gặp ma hiền lành..."
"Nghĩa là người đã gặp ma nhiều lần mà toàn là ma dữ ?"
Hắn suy nghĩ một lát rồi đáp :
"Nói thiệt là chưa bao giờ gặp ma. Còn ma dữ là nghe nói lại thôi, chứ chưa bao giờ bị ma quấy phá. Còn lần này thì tôi thực sự có cảm tình với hồn...Từ lâu tôi sống rất cô đơn, không vợ không con, bạn bè chỉ giao thiệp một cách hời hợt, chứ không thân. Nay có hồn, mỗi lần về nhà thấy ấm cúng vì có người để chuyện trò."
Hắn không khỏi ngạc nhiên thấy mình đã bày tỏ tâm sự với ma. Nhưng quả thật, cuộc sống của hắn rất cô đơn kể từ ngày hắn trốn khỏi trại tù cải tạo. Sau khi vượt ngục, hắn không dám ghé về nhà thăm cô vợ trẻ mới cưới được ít lâu, trước ngày miền Nam xụp đổ.  Hắn tìm đường vượt biên ngay. Gần hai năm sau hắn mới liên lạc được với vợ thì nàng đã lấy chồng khác. Trong khi hắn mất tích, bọn cộng sản báo cho vợ hắn biết là hắn đã chết. Tin vợ lấy chồng khác làm hắn buồn rất lâu, cả mấy năm trời mới nguôi ngoai. Hắn không trách vợ nhưng cũng ngạc nhiên về sự thay đổi nhanh chóng của nàng.  Trước ngày cưới, hai người đã yêu nhau tha thiết, tưởng không bao giờ có thể quên nhau được dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Từ đó, hắn không còn tin nổi ai nữa. Trong sự liên lạc hàng ngày, hắn gặp nhiều người đàn bà, kể cả những người chưa hề có chồng, nhưng hắn không dám đi quá sâu trong liên hệ tình cảm. Hắn chỉ vui chơi với họ một thời gian rồi mỗi người đi một đường. Thế mà khỏe ! Không ràng buộc, không trách nhiệm. Chính vì thế, đôi khi hắn cảm thấy rất cô đơn. Nhà hắn lúc nào cũng vắng lạnh. Nhiều hôm, hắn không dám về nhà vì cái lạnh lẽo đó. Hắn thèm một hơi ấm cho căn nhà hay chính cho tâm hồn quạnh hiu của hắn. Có lần hắn nghĩ tới chuyện lấy vợ. Nhưng rồi hắn phải dẹp bỏ ý nghĩ đó đi.  Tuổi hắn nay đã ngót năm mươi, sống một mình hơn hai chục năm, mọi thói quen đã thành nếp trong hắn, không thể bỏ được nữa. Bây giờ, nếu lấy vợ, hắn sẽ phải thích ứng với cuộc sống mới cho phù hợp với hoàn cảnh của một cặp vợ chồng. Hắn sẽ phải bỏ bớt một số thói quen và tập cho quen những cái mới.  Sự bỏ bớt và tập thêm ấy sẽ làm hắn khổ sở ở cái tuổi trung niên này.  Rồi hắn sẽ bực bội, khó chịu, cuộc sống hôn nhân sẽ gặp sóng gió.  Thà cứ chịu cô đơn lại không chuốc phiền lụy vào mình.  Hắn đành kéo dài cuộc sống độc thân.
Nay bỗng thấy mình hợp với hồn ma của căn nhà mới mua thì hắn vừa thích thú vừa ngạc nhiên. Không ngạc nhiên sao được khi con người có thể sống chung một cách vui vẻ, hòa thuận với một hồn ma. Hắn nghĩ tới cái duyên của nhà Phật. Biết đâu hắn và ma chả có duyên với nhau, nhưng không được gặp nhau lúc ma còn sống làm người ở cõi thế. Đến bây giờ mới được gặp  thì mỗi người ở một thế giới khác. Có thể đây là cái duyên cuối cùng mà hồn ma còn vướng mắc trước khi được siêu thoát  để lên một cõi cao hơn, không còn bị lôi cuốn vào vòng luân hồi nữa. Hắn chợt buồn khi nghĩ tới ngày hồn ma bỏ hắn để siêu thoát.  Rồi hắn sẽ lại trở về với cô đơn như trước kia. Căn nhà của hắn sẽ lại vắng lạnh, rồi hắn sẽ lại thui thủi một mình, ra vào buồn tênh.
Đang suy nghĩ vẩn vơ, hắn bỗng thấy hồn ma an ủi :
"Có hợp thì có tan, được lúc nào hay lúc đó, buồn mà làm chi."
"Hồn...có buồn khi phải xa tôi không ?"
"Khi đến được cái mức vô tính như hồn làm gì còn tình cảm nữa để mà vui hay buồn.."
"Như vậy là hồn trơ như gỗ đá rồi..."
"Gỗ đá cũng còn chịu ảnh hưởng của thời tiết, hồn không chịu ảnh hưởng của bất cứ cái gì, dù hồn vẫn cảm thông với muôn loài, muôn vật."
"Như vậy hồn phải tu lâu lắm rồi ?"
"Chính hồn cũng không biết nữa."
Hắn bỗng thở dài :
"Giá tôi cũng được như hồn..."
"Làm việc gì cũng phải có bắt đầu. Muốn trở thành vô tính như hồn, hãy bắt đầu..."
"Bắt đầu làm gì và bắt đầu như thế nào ?"
Hồn ma giữ im lặng khá lâu, hình như để suy nghĩ, rồi đáp :
"Đã tới được trình độ vô tính, hồn không còn nhớ gì nữa. Có lần người nói tới việc gì đó..."
Hắn chợt nhớ :
"Có phải là tu không ?"
Hồn ma công nhận :
"Bắt đầu ở mức thấp nhất là tu...Tu là tự gỡ bỏ dần những vướng mắc, ràng buộc với cuộc sống."
Hắn nửa đùa nửa thật :
"Ngay ngày mai, tôi sẽ vào một nhà tu..."
Hồn ma cắt lời hắn :
"Cần gì phải vào nhà tu. Vào đó, mà lòng vẫn còn luyến tiếc cõi đời thì cũng như không. Cứ sống bình thường và bắt đầu nghĩ và làm những điều tốt, thế mới là tu."
Hắn giữ im lặng, vì biết rằng không dễ gì làm được như vậy. Đó là một bước quá cao mà nhiều nhà tu hành cũng chưa đạt tới nổi, trong khi hắn chỉ là kẻ phàm tục.
Từ ngày đó, lần nào tiếp xúc với hắn, hồn ma cũng khuyến khích hắn bắt đầu cởi bỏ mọi ràng buộc, nhất là những ràng buộc về tinh thần và tình cảm. Theo hồn ma, những buồn phiền, những thù ghét, những oán giận, những yêu thương đều không tốt, đều gây nên cái duyên, cái nợ.
Hắn nhận ra một điều là hắn bắt đầu bị ảnh hưởng của những lời khuyến khích đó. Hắn ít liên lạc với bạn bè, xa dần những người thân thuộc. Cho đến một ngày hắn thấy mình nhìn đời một cách bình thản hơn. Mọi chuyện đối với hắn không còn quan trọng nữa. Bây giờ điều quan trọng nhất có lẽ là việc nói chuyện với ma hàng đêm. Xong việc sở, hắn chạy vội về nhà. Bạn bè thấy hắn thưa đi lại thì đoán hắn lại bận bịu với một người đàn bà nào đó. Đã có người hỏi thẳng hắn về người đàn bà hắn mới quen, hắn cho biết hắn vẫn ở nhà và không giao du thân mật với bất cứ ai. Họ không tin nên sau giờ làm việc đã gọi điện thoại để xem hắn có ở nhà thật không. Họ gọi vài lần, rồi có người đến tận nhà để "kiểm tra" bất thình lình.  Khi biết hắn không nói dối, họ kháo nhau rằng hắn đã tu thật sự.
Nhưng hắn biết hắn không tu, mà chỉ "nghiện" nói chuyện với ma.
Đến một đêm, hắn không thấy ma hiện ra nói chuyện với hắn nữa. Hắn cố ngồi đợi cho đến sáng mà vẫn không nghe động tĩnh gì. Suốt một tuần liền, hắn đợi chờ và gọi thầm ma. Vẫn chẳng thấy tăm hơi đâu. Cuối cùng hắn đoán ma đã siêu thoát. Hắn ngẩn ngơ nhớ tiếc.
Căn nhà yên lặng quá và trở nên lạnh lẽo khiến hắn muốn dọn đi nơi khác. Nhưng hắn lại biết rằng căn nhà này đã có tiếng là nhiều ma nên khó bán. Làm sao nói cho người ta tin rằng nhà không còn ma nữa, nên hắn mới tính dọn đi. Đó là một điều rất nghịch lý ! Tuy nhiên, hắn cũng thử gọi bà bán nhà đất. Khi biết là hắn, người đã mua căn nhà có ma, bà ta hỏi ngay :
"Ma phá quá, ông không chịu nổi nên muốn bán đi ?  Tôi sợ lần này thì khó kiếm được người mua, dù ông có giảm giá nhiều thêm nữa."
Hắn vội đính chính :
"Không, không phải là tại ma phá quá không chịu nổi. Mà bây giờ...không còn ma nữa. Không còn ma, tôi đâm buồn, muốn bán đi."
Bà "nhà đất" giữ im lặng một lát, rồi nói dằn từng tiếng :
"Thưa ông, chúng tôi rất bận, thì giờ quý như tiền bạc, làm gì có dư để đùa giỡn như ông. "
Rồi bà cắt diện thoại ngay không để hắn kịp phân trần nửa lời.
                                                                                                          TQK
                                                                                                        10/2000     

Tuesday, November 20, 2012

                             Dặn dò

                          Bao giờ tôi chết, xin đừng khóc
                          Để níu chân tôi vướng cõi trần.
                          Xin hãy cười vui giờ vĩnh biệt,
                          Mừng tôi đã thoát nợ gian truân.

                          Bao giờ tôi chết hoa đua nở,
                          Mừng đón tôi về lại cõi tiên.
                          Kiếp đọa nhân sinh vừa trả đủ,
                          Không còn vương vấn nợ trần duyên.

                                                       Tạ Quang Khôi
                                                     (11-2012)
                                                                

Saturday, July 14, 2012

NGẬM NGÙI
                                                       Tạ Quang Khôi
                                                                 

    T
in Vân Quỳnh đã làm mồi cho cá trên biển cả khi vượt biên khiến Hợp bàng hoàng đến tê dại cả tâm hồn. Hy vọng gặp lại người học trò cũ xinh đẹp và thông minh vụt tan biến. Chàng đã chờ đợi tin tức Vân Quỳnh suốt hai chục năm trời. Chàng chưa quên ngày cô đến chào từ biệt để nhận công tác mới ở miền duyên hải xa xôi. Hôm ấy, cô đến tìm chàng với vẻ mặt buồn bã.
“Thầy ạ, cô nói, em được chuyển công tác về công ty hải sản ở Rạch giá. Nếu có dịp thuận tiện, em sẽ vượt biên tìm tự do.”
Hợp vui vẻ khuyến khích :
“Ở ngay Rạch giá thì đi rất dễ . Khi nào sang được Mỹ, chị đừng quên viết thư báo tin mừng cho tôi đấy.”
Cô sốt sắng :
“Điều đó, thầy chả phải dặn. Ngay khi đến được trại tỵ nạn, em sẽ báo cho thầy rõ. Em còn ai để báo tin nữa đâu...Trên đời này, chỉ còn...mình thầy thôi.”
 Hợp nghĩ tới hoàn cảnh gia đình của Vân Quỳnh. Cha mẹ cô đều đã qua đời, mỗi người chết một cách, cùng đáng thương. Khi cô đang học lớp 9, mẹ cô vì ghen, đã tự tử, chết tức tủi. Cha cô là một sĩ quan trong ngành tâm lý chiến, tính tình rất bay bướm, thường tiếp xúc với các nữ văn nghệ sĩ, hết đi chơi thân mật với cô ca sĩ này lại hẹn hò tình tứ với cô kịch sĩ kia. Mẹ cô đã nhiều lần van xin, đánh ghen mà vẫn không ngăn cản được chồng. Cuối cùng bà chọn cái chết. Ông chồng lúc đó mới hối hận. Sau cái chết uất ức của vợ, ông cũng giảm bớt chuyện tình bay bướm để lo săn sóc mấy đứa con. Vân Quỳnh là con út trong gia đình. Cô có hai người anh. Sau cuộc đổi đời năm 1975, cha cô bị tù “cải tạo”, rồi bị chết đói trong một trại tù ở miền thượng du Bắc Việt. Cô nghe một người bạn tù cũ của cha cô kể lại thì ông rất bướng bỉnh, không chịu khuất phục bọn cai tù, nên đã bị chúng biệt giam và bỏ đói. Người anh lớn của cô trước khi được tin bố chết trong trại tù đã tình nguyện vào bộ đội, vì nghe lời dụ dỗ lừa gạt của bọn cộng sản với hy vọng bố sẽ được trả tự do sớm nếu anh chịu nhập ngũ. Anh bị đưa sang chiến đấu bên Cao miên, rồi mất tích ngoài mặt trận. Người anh thứ hai của cô vượt biên, không có tin tức gì, ai cũng nghĩ anh đã chết, nhưng cô vẫn hy vọng có ngày được gặp lại cả hai anh.
Nghe Vân Quỳnh nói thế, Hợp bùi ngùi khuyên :
“Chị phải cẩn thận nhé. Thấy chắc hãy đi.”
Cô cười :
“Vượt biên thì có gì chắc đâu, thầy. Một con thuyền nhỏ giữa biển khơi, chỉ còn biết trông vào may rủi. Đã bị dồn đến nước này thì cũng phải liềù thôi.”
Hợp buồn buồn :
“Liều thì liều, nhưng cũng phải tính toán…”
Bỗng chàng đề nghị :
“Hay chị nán lại một thời gian để cùng đi với bọn tôi...Chính tôi cũng đang tìm đường.”
Ngẫm nghĩ giây lát, Vân Quỳnh lắc đầu :
“Thế nào em cũng phải đi Rạch Giá vì ở đây em thấy cô đơn quá...Có ai đoái hoài tới em đâu.”
Hợp hiểu rằng cô đã ngầm trách mình. Đó là lời trách oan uổng, chàng cũng không muốn đính chính. Cô đã yêu chàng một cách mù quáng khi chàng đã có gia đình.
Hợp là một giáo sư  Sử Địa tại một trường nữ trung học ở Saigon. Chàng có biệt tài giảng về môn sử  học nên được nhiều học sinh ái mộ. Trong các giờ sử của chàng, học sinh có cảm tưởng đang được nghe thầy kể những câu chuyện cổ tích nên say mê theo dõi từ đầu đến cuối. Có nhiều học sinh nghe xong đã thuộc bài. Vân Quỳnh học chàng bốn năm liền, từ lớp 9 đến lớp 12. Sau khi đỗ tú tài phần hai, cô táo bạo tỏ tình với chàng. Khi nghe cô nói cô trót yêu mình từ mấy năm nay, Hợp giật mình và rất ngạc nhiên. Chàng rụt rè hỏi :
“Chắc chị cũng biết tôi đã có gia đình ?”
Cô khẽ thở dài :
“Đó chính là cái ngu, cái khùng của em. Nhưng khi đã yêu, người ta dễ mù quáng, phải không thầy ?”   
Hợp không trả lời thẳng câu hỏi của cô mà chỉ trách nhẹ :
“Chị lãng mạn quá, thật tôi không ngờ !”
“Dạ, chính em cũng không ngờ. Tình yêu đến từ bao giờ em đâu có hay, rồi nó lớn dần lên em cũng không rõ. Bây giờ thì nó hoàn toàn chiếm ngự trái tim em.”
Hợp trố mắt nhìn cô với một vẻ rất ngạc nhiên, rồi nói :
“Chị có giọng điệu của một nhà văn. Không biết chị đã viết văn bao giờ chưa ?”
Cô lắc đầu, cười :
“Em chưa thử, vì em không thích viết văn, làm báo...Nếu em có viết văn, chỉ muốn viết cho một người đọc thôi. Chả biết người đó có thích đọc văn em không ?”
Hợp im lặng vì sợ nói lỡ có thể bị cô coi như một lời hứa hẹn. Hợp là một nhà giáo nghiêm túc, đàng hoàng, có cuộc sống rất mực thước. Chàng không bao giờ nghĩ đến chuyện lừa gạt người vợ mà chàng rất yêu thương. Loan, vợ chàng, không thuộc loại “sắc nước hương trời” hay “chim sa cá lặn”, nhưng duyên dáng và rất hiền lành. Chàng yêu nàng khi nàng còn là một cô nữ sinh nhỏ bé ở một trường trung học tư. Sau mấy năm hẹn hò, chàng cưới nàng khi nàng vừa hoàn tất bậc trung học. Hai người sống với nhau rất thuận hòa và đã có hai đứa con gái xinh đẹp. Loan khéo léo biến căn nhà nhỏ bé của hai người thành một tổ ấm đến nỗi Hợp đi đâu cũng chỉ mong về sớm với gia đình. Chàng không thể rời xa bầu không khí ấm cúng do Loan tạo nên. Khi nghe Vân Quỳnh tỏ tình, chàng chỉ cho là cô quá nông nổi và lãng mạn, chưa chắc đã thực sự yêu thương. Mối tình bồng bột rồi sẽ tan đi như bọt sóng mà thôi, chàng nghĩ. Nhưng mấy năm sau, chàng biết mình đã lầm. Vân Quỳnh từ chối lời tỏ tình hoặc cầu hôn của nhiều chàng trai. Cô vẫn chỉ một mực yêu chàng. Bất cứù chuyện riêng tư nào, cô đều tâm sự với chàng. Đã nhiều lần chàng khuyên cô nên bằng lòng một trong những người đang theo đuổi cô, nhưng cô vẫn làm ngơ. Về phần chàng, muốn ngay thẳng với vợ, chàng đã kể hết cho Loan nghe mối tình bất thường của cô học trò cũ. Mới đầu Loan cũng buồn và lo, nhưng sau thấy chồng không hề có ý dối gạt mình, nàng mới yên tâm. Cách đối sử của nàng với Vân Quỳnh thoạt tiên có vẻ lạnh nhạt, rồi dần dần trở nên thân mật khi nàng biết chắc chồng lúc nào cũng chỉ một mực yêu thương mình. Hôm Vân Quỳnh đến từ biệt để đi nhận công tác ở Rạch Giá, nàng đã giữ cô ở lại ăn cơm tối. Thấy cô còn lưỡng lự, nàng nói :
“Trong thời buổi khó khăn này, chị đi xuống tận Rạch Giá, lại có ý định vượt biên, biết có bao giờ gặp lại chị không ? Cứ coi như đây là bữa cơm tiễn biệt để ghi nhớ ngày xa nhau.”
Lời nói khéo của Loan đã giữ được Vân Quỳnh ở lại tối hôm đó.
Trong ngót nửa năm ở Rạch Giá, Vân Quỳnh viết thư cho vợ chồng Hợp hàng tuần. Cô kể những chuyện trong cơ quan, đường phố, phong cảnh. Cô cũng tả lại những cuộc đi thăm các hòn đảo gần Rạch Giá cùng các bạn trong cơ quan. Đến tháng thứ tư và tháng thứ năm, cô báo hai tin mừng liền về hai người anh của cô. Người anh đi chiến đấu bên Cao miên đã tới được một trại tỵ nạn bên Thái Lan và đã liên lạc được với thân nhân ở Mỹ. Người anh vượt biên đã thoát chết, hiện đang ở Nhật và chờ đi định cư ở một nước bên Âu châu vì đã bị Mỹ từ chối. Cô kể rằng thuyền của người anh chết máy ở giữa biển, dạt vào một hoang đảo. Trên thuyền có hơn năm chục người, kể cả hai chục con nít, đều sống sót, chỉ bị đói khát mất mấy ngày. Sau đó họ được một tầu đánh cá Nhật đưa về Nhật. Tất cả mọi người đang chờ đợi đi định cư ở nước khác và đã được phủ Cao ủy tỵ nạn Liên hiệp quốc giúp đỡ. Hai tin mừng này càng làm Vân Quỳnh hăm hở tìm tự do bằng đường biển. Trong lá thư sau cùng, cô cho biết trong một ngày rất gần, cô sẽ ra khơi và hẹn gặp vợ chồng Hợp ở Mỹ. Ngay sau khi nhận được lá thư đó, Loan bày bàn thờ ra giữa vườn để cầu nguyện cho cô gặp may mắn, sớm đến được bến bờ tự do. Hai vợ chồng mong đợi tin tức cô từng ngày từng giờ, nhưng càng đợi càng biệt vô âm tín. Hơn một năm sau, gia đình Hợp cũng xuống thuyền đi tìm tự do. Họ đã may mắn tới đích an toàn, sau có bốn ngày lênh đênh trên mặt biển.
Rồi cuộc sống ở đất Mỹ có quá nhiều bận rộn khiến vợ chồng Hợp tạm quên đi cô học trò cũ. Khi gia đình Hợp đã đứng vững được ở đất mới, Loan bỗng mắc bệnh nan y, chỉ trong vòng có một thời gian ngắn nàng qua đời. Nàng bị ung thư máu, khi biết được thì đã quá muộn. Trong giây phút hấp hối, nàng nắm lấy tay chồng và khuyên nên cố gắng tìm gặp lại Vân Quỳnh vì nàng biết cô đã yêu Hợp thành thật. Chỉ có cô mới có thể đem hạnh phúc lại cho chàng.
Nhưng vì bỗng mất người vợ yêu chỉ trong một thời gian quá ngắn, Hợp bàng hoàng đau đớn không sao nguôi được, lòng dạ nào mà nghĩ đến chuyện tục huyền. Mãi đến khi các con chàng đi học xa, ở hai tiểu bang khác, chàng mới cảm thấy cô đơn và nghĩ tới cô học trò cũ. Không biết hỏi ai để có tin tức về Vân Quỳnh, chàng đành đăng mấy lời nhắn tin trên nhiều báo Việt ngữ khắp nước Mỹ. Cuối cùng, người anh lớn của cô gọi điện thoại cho chàng. Anh ta không những cho chàng biết tin tức về cô mà cả về chính anh ta và người em trai nữa.
Ghe vượt biên của Vân Quỳnh bị mất tích giữa biển cả. Mới đây anh ta đã về tận Rạch Giá để dò hỏi thì thân nhân những người đi cùng ghe với Vân Quỳnh cũng đều không nhận được tin tức gì. Ai cũng nghĩ rằng tất cả mọi người trên ghe đã chết. Còn chết như thế nào, không ai biết rõ. Nhưng có điều chắc chắn là những ngày ghe ra khơi trời yên biển lặng, không có gió lớn, không mưa bão. Anh ta ở lại Rạch Giá cả tháng trời để tìm tòi, dò la tin tức của em gái mà không có kết quả. Về phần anh, anh đã bị kẹt ở trại tỵ nạn rất lâu, gần năm năm trời, mới được đi định cư ở Mỹ. Anh đã học xong đại học, đã có vợ con và hiện ở một tiểu bang phía Tây Bắc nước Mỹ. Người em trai của anh hiện ở Đức. Anh ta cũng đã có vợ con và có công ăn việc làm vững chắc. Như vậy, trong ba anh em, chỉ một mình Vân Quỳnh là không may.
Nói chuyện với người anh Vân Quỳnh xong, Hợp buồn đến thẫn thờ cả mấy ngày. Chàng không ngờ cô lại chết non yểu như vậy. Sau một nhiều đêm trằn trọc, chàng quyết định đi thăm Rạch Giá để tìm cách từ biệt cô học trò đã nặng tình với mình lúc cô còn sống.
Hợp lẳng lặng thu xếp chuyến về Việt Nam, không báo cho các con biết. Nửa tháng sau, chàng lên đường. Chàng chỉ ghé Saigon có một đêm, rồi thuê xe đi thẳng xuống tỉnh ngay. Tại đây, chàng thuê một chiếc ghe chở thật nhiều hoa ra biển. Chàng rải hoa lên mặt nước và khấn Vân Quỳnh hãy hiểu cho lòng chàng. Lúc cô còn sống, chàng đã có gia đình và không bao giờ có ý định phản bội người vợ chung thủy với chàng. Tuy nhiên lòng chàng rất cảm kích về mối tình của cô.
Rải hoa phúng điếu Vân Quỳnh xong, Hợp ở nán lại Rạch Giá một tuần. Trong thâm tâm, chàng vẫn mong ước có một phép lạ nào đó khiến chàng được gặp lại cô học trò cũ. Nhưng rồi chẳng có phép lạ nào hết, chàng đành ngậm ngùi trở lại Saigon để bay về Mỹ...
                                                                                                                                     TQK

Wednesday, June 6, 2012

Ký giả nằm vùng

            Tôi không biết chắc miền Nam trước 30 tháng 4 1975 có bao nhiêu ký giả nằm vùng cho cộng sản, tôi chỉ nhớ có mấy người. Có người tôi quen thân, cũng có người tôi chỉ gặp một vài lần mà không quen.
            Người tôi quen thân nhất là Nguyễn Ngọc Lương vì Lương cùng làm đài phát thanh Saigon với tôi nhiều năm, lại cùng quê Nam Ðịnh. Lương ở Hải Hậu, tôi ở ngay tỉnh lỵ. Vì tình đồng hương, chúng tôi dễ thân nhau. Hồi mới gặp Lương, tôi không ngờ  ông lại là một cán bộ cộng sản được gài vào Nam theo cuộc di cư năm 1954. Ông có vẻ nhà quê và ít hiểu biết. Vào cuối thập niên 1950, thuốc chữa bệnh lao phổi rất hiệu nghiệm là Streptomycine, thế mà Lương không biết. Khi tôi sang thăm ông bên Thị Nghè, thấy ông gầy và xanh xao. Tôi ngạc nhiên hỏi ông có ốm đau gì không, thì ông cho biết bị lao phổi và đang uống thuốc Bắc. Tôi rất ngạc nhiên về sự kém hiểu biết của ông. Vậy mà cũng là biên tập viên phòng bình luận đài phát thanh Saigon. Tôi liền nói :
            “Trời ơi, sao cậu lại uống thuốc Bắc ? Cậu phải đi bác sĩ hoặc vào nhà thương ngay. Thuốc Bắc làm sao chữa được ho lao.”
            Quả nhiên sau một thời gian nằm bệnh viện Saint Paul, Lương khỏi bệnh. Con người như thế, ai có thể ngờ là một cán bộ cộng sản nằm vùng. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau, ông bị công an bắt. Không phải một lần mà nhiều lần. Tôi không hiểu sao công an bắt rồi thả mà không giam giữ luôn trong tù hoặc đưa ra tòa nếu biết chắc ông hoạt động cho cộng sản ? Không những thế, ông tổng giám đốc Nha Vô Tuyến Truyến Thanh còn vào khám thăm Lương. Nhưng rồi ôg không làm đài phát thanh nữa mà ra mở báo riêng, một tờ nguyệt san (tôi quên tên tờ nguyệt san này). Tòa báo ở đường Phạm Ngũ Lão và bút hiệu ông là Nguyễn Nguyên. Như vậy, chính quyền miền Nam quá khoan dung.
            Sau 30 tháng 4 năm 1975, Lương lộ nguyên hình là một cán bộ cộng sản trong lãnh vực báo chí. Ði đâu ông cũng ôm kè kè một chiếc cặp da đầy các bài viết. Ông thường hôi thúc tôi viết cho ông, nhưng không nói rõ sẽ đăng ở báo nào. Một hôm, Ông mở cặp lấy ra hai bài viết của hai tác giả nổi tiếng miền Nam (tôi xin phép được dấu tên hai tác giả này vì một người đã qua đời và một hiện sống ở Úc). Tôi tò mò đọc lướt qua hai bài viết. Cả hai đều bị Lương sửa bằng bút đỏ, như thầy giáo sửa bài luận văn của học trò. Thật ra, tôi cũng chưa bao giờ sửa bài học trò quá đáng như vậy. Tôi rất ngạc nhiên về sự sửa chữa ấy. Dù sao họ cũng là những tác giả đã nổi tiếng trước 1975.
            Sau nhiều lần bị Lương hối thúc, tôi đành viết một truyện ngắn, tên là “Tiếng Hát Trương Chi” với mục đích bênh vực các nhà văn miền Nam cũ, cho rằng họ là những người có tài, nhưng bị chế độ mới ruồng rẫy, ghét bỏ. Khi tôi viết xong, tìm Lương thì không thấy ông đâu. Có người cho biết lúc đó ông  phải về quê Hải Hậu, Nam Ðịnh, để xác nhận lại đảng tịch và cấp bậc thượng tá. Khi tôi đưa các con tôi vượt biên thì ông vẫn chưa trở lại Saigon.
            Sau khi được định cư ở Mỹ, tôi lại liên lạc được với Lương qua những lá thư gửi bưu điện. Tôi biết tin ông không còn được đảng và nhà nước cộng sản trọng dụng nữa. Ông phải viết cho báo Tiếp Thị để tạm sống qua ngày. Mỗi lần về Nam Ðịnh thế nào ông cũng ghé thăm ông anh rể và bà chị ruột tôi. Bây giờ thì cả ba người đều không còn nữa. Trong môt bức thư khác ông cho biết vợ ông đã bỏ ông. Bà là em gái ông Ngô Vân, chủ nhiệm nhật báo Tia Sáng ở Hà Nội trước năm 1954. Bà làm cho sở Mỹ, đáng lẽ được Mỹ bốc ra khỏi Việt Nam trước ngày 30 tháng 4 năm 1975. Nhưng vì chồng bà là cán bộ cộng sản nên bà bị bỏ rơi.
            Lương qua đời vì bệnh ung thư.
            Người thứ hai mang tiếng nằm vùng hay thân cộng là Vũ Hạnh. Tôi quen Vũ Hạnh từ hồi cùng làm báo Ngày Nay của nhà văn Nguyễn Họat tức Hiếu Chân, Rồi sau đó lại cùng dạy ở một trường tư. Vũ Hạnh tên thật là Nguyễn Ðức Dũng, người Ðà Nẵng (hay Hội An ?). Theo ông Vũ Ký, một giáo sư của trường Pétrus Ký, cũng là một nhà văn, cùng quê với Vũ Hạnh, thì Hạnh đã bị chính quyền tỉnh Ðà Nẵng (hay Hội An ?) nọc ra giữa sân tòa tỉnh trưởng để đánh đòn về tội thân cộng, rồi thả ra mà không bắt giam. Quả thật tôi không biết chuyện này thực hư ra sao nhưng thắc mắc nếu đã biết Hạnh là cộng sản nằm vùng mà không bắt giam, chỉ đánh đòn thôi ? Không lẽ chính quyền miền Nam chống cộng một cách…ngây thơ như vậy ?
            Dù nhiều người không ưa Vũ Hạnh, nhưng ai cũng phải công nhận ông viết văn hay. Nhiều lần ông đề nghị ông và tôi xuất bản một tờ báo lấy tên là “Ði Về Hướng Mặt Trời”. Tôi đứng tên chủ nhiệm, ông chủ bút. Tôi hiểu thâm ý của ông nên cương quyết từ chối.
            Sau khi cộng sản chiếm miền Nam, chính quyền cộng sản tổ chức một buổi họp mặt các văn nghệ sĩ Saigon ở tòa đại sứ cũ của Ðại Hàn, Hạnh và mấy cán bộ nàm vùng, như Thái Bạch, Nguyễn Ngọc Lương đều đeo súng lục bên hông. Thi sĩ Hoàng Anh Tuấn nửa đùa nửa thật nói với Hạnh :”Anh em văn nghệ sĩ chỉ quen dùng bút, chư có biết chơi súng đau.” Hạnh lườm xéo Tuấn một cái rồi bỏ đi.
Nhưng mấy tháng sau đó, tôi tình cờ gặp Hạnh ở giữa đường. Tôi chưa kịp hỏi thăm, ông đã lắc đầu nói nhỏ :”Totalement decu !” (hoàn toàn thất vọng). Tôi không dám có ý kiến gì vì khi ở với cộng sản, ta không thể tin bất cứ ai trừ những người thân trong gia đình. Ít lâu sau, một người bạn giầu có của tôi cho biết anh cộng tác với Vũ hạnh để mở một gánh hát cải lương. Tôi không quan tâm mấy nên không hỏi thêm điều gì, vì lúc đó vợ tôi đang ốm nặng. Dường như gánh hát thất bại nên tôi lại nghe tin Hạnh lập xưởng làm xà bông. Tất nhiên cũng phải có người bỏ vốn. Tôi thắc mắc tại sao Hạnh thân cộng, nằm vùng mà sau khi chiếm được miền Nam cộng sản không dùng Hạnh khiến ông long đong phải làm hết việc này đén việc khác để kiếm sống ? Bẵng đi một thời gian khá lâu, khi tôi đang tìm đường vượt biên, một hôm tôi tình cờ gặp Trần Phong Giao ở nhà bưu điện Saigon. Giao là chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ nguyệt san Văn trước năm 1975. Giao và tôi ngoài tình bạn văn nghệ còn có tình đồng hương nữa. Chúng tôi cùng sinh trưởng ở Nam Ðịnh. Vì lâu không gặp nhau, chúng tôi ngồi ngay xuống bậc thềm nhà bưu điện để nói chuyện. Chúng tôi nói đủ thứ chuyện, cuối cùng, tôi thì thầm cho Giao biết tôi đang tìm đường vượt biên. Ông liền hỏi tôi có biết Vũ Hạnh cũng đang tìm đường vượt biên không ? Tôi ngạc nhiên hỏi :
”Nó mà cũng vượt biên ?”
Giao lắc đầu và cho biết Hạnh tìm đường cho các con Hạnh thôi. Rồi Giao cười, nửa đùa nửa thật :
“Thằng ấy mà ra khỏi nước thế nào cũng bị người ta quẳng xuống biển.”
Rồi Giao nói thêm :
“Ngay cả việc giới thiệu cho con nó đi thôi cũng không dám, lỡ nó tố cáo với công an tổ chức vượt biên thì mệt lắm.”
Có một điều rất ngạc nhiên là từ khi ra khỏi nước, sống ở hải ngoại, tôi không hề nghe ai nhắc tới Vũ Hạnh nữa, kể cả những bạn văn nghệ còn sống ở Việt Nam. Cho đến nay tôi không hiểu Hạnh còn sống hay đã chết ?
Nhà văn thứ ba bị coi là nằm vùng cho cộng sản là Ngọc Linh. Khi viết truyện cho nhật báo Hồa Bình, cứ hai ba hôm tôi lại phải ghé tòa báo để đưa bài. Lần nào tôi cũng gặp Ngọc Linh. Ông làm thường trực trong ban biên tập, đồng thời viết cả truyện dài cho báo. Ông là một nhà văn có nhiều độc giả hâm mộ. Ông có truyện đã được đưa lên sân khấu cải lương và quay thành phim, như truyện “Ðôi Mắt Người Xưa”. Một hôm tôi ghé tòa soạn Chính Luận để đưa bài, một nhân viên tòa soạn hỏi tôi có biết Ngọc  Linh là cộng sản nằm vùng không ? Tôi hơi ngạc nhiên vì quả thật tôi không bao giờ nghĩ rằng Ngọc Linh lại có thể là một cán bộ cộng sản. Ông có một cuộc sống rất sung túc và rất…tiểu tư sản. Ông đi xe hơi Nhật mới toanh, là chủ một phòng tập dưỡng sinh (không rõ là Tai chi hay Yoga ?) Truyện ông viết rất ướt át đày tình cảm. Ông biết rõ lập trường chống cộng của tôi mà vẫn thân mật với tôi. Ông đã giới thiệu nhà xuất bản in sách của tôi.
Rồi chỉ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông mới tỏ ra thân cộng.  Ông tích cực họat động cho hội Văn Nghệ Sĩ cộng sản. Một hôm, tôi tình cờ gặp ông giữa đường, lúc đó ông không còn lái xe hơi nữa mà đi xe đạp, tôi vui vẻ chào ông mà ông ngoảnh mặt làm ngơ như chưa từng biết tôi là ai. Tôi hơi ngạc nhiên nhưng hiểu ra ngay. Tôi không buồn mà cũng chẳng giận ông. Ít lâu sau thì nghe tin ông bị tai biến mạch máu não và qua đời.
Trong giới văn nghệ Saigon, người ta cũng đồn nhà văn Sơn Nam nằm vùng. Tôi không thân với Sơn Nam, chỉ thỉnh thoảng gặp nhau ở tòa báo Chính Luận khi cung đến đưa bài. Chúng tôi lạnh nhạt chào nhau một cách xã giao. Sau khi cộng sản chiếm miền Nam, tôi thấy ông cũng không có gì thay đổi.
Người cuối cùng nằm vùng trong làng báo Saigon mà tôi biết là Thái Bạch. Tôi chỉ gặp Thái Bạch có hai lần. Lần thứ nhất ở tòa báo Tự do vào năm 1955, rồi ông mất tích luôn. Sau 30 tháng 4 năm 1975, trong buổi họp các văn nghệ sĩ Saigon ở tòa đại sứ Ðại Hàn cũ, ông xuất hiện và có đeo súng lục bên hông với vẻ mặt vênh váo.
Tổng số những nhà văn nhà báo nằm vùng cho cộng sản hay thân cộng, tôi chỉ biết có thế thôi. Nhưng tôi thắc mắc về hai chữ “nằm vùng”. Theo tôi hiểu thì “nằm vùng” là có hoạt động cho cộng sản, chống lại chính quyền quốc gia miền Nam. Ngay cả Nguyễn Ngọc Lương là người được cộng sản gài theo dân Bắc di cư vào Nam và có cấp bậc thượng tá và là đảng viên đảng cộng sản, tôi cũng không thấy có hoạt động gì có lợi cho cộng sản. Không những thế, ông còn làm trong phòng bình luận của đài phát thanh Saigon. Nhân viên của phòng này có nhiệm vụ viết những bài ca tụng hoặc giải thích mọi việc làm của chính phủ. Một biên tập viên của chính phòng đó một hôm nói đùa với tôi rằng họ làm công việc “mẹ hát con khen hay”. Lương cũng phải viết những bài theo lập trường đó, không thể viết ngược lại được. Người ta chỉ biết ông là cộng sản khi ông bị công an Saigon bắt mấy lần.
Ðối với những người “nằm vùng” hay thân cộng, tôi không được đọc một bài viết chống chính phủ quốc gia hay ca tụng cộng sản nào. Như vậy, có thật họ nằm vùng hay chỉ ngấm ngầm thân cộng thôi ? Nếu chỉ là thân cộng hay có cảm tình với cộng sản thì tôi dám nói rằng trước 30 tháng 4 năm 1975, đa số người Nam có cảm tình với cộng sản vì nhiều gia đình có thân nhân tập kết ra Bắc. Rồi chỉ sau khi cộng sản Bắc Việt chiếm miền Nam và giải tán Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam họ mới vỡ mộng.  Vào cuối năm 1975, một hôm nhà văn Phan Nghị đến thăm tôi. Khi tôi ra mở cửa, ông toe toét cười nói oang oang :
“Mày biết không ? Bây giờ miền Nam hết người mù rồi.”
Tôi chưa hiểu ý ông định nói gì thì ông đã tiếp :
“Chúng nó sáng mắt rồi, mày ạ.”                                                     
                                     
                                                                                                      TQK (6-2012)