Monday, August 31, 2015

MƯA GIÓ MIỀN NAM              Tạ Quang Khôi                       
LTS.Truyện Mưa Gió Miền Nam có thể coi như truyện đầu tay của Tạ Quang Khôi, viết năm 1956, đăng báo Văn Nghệ Tiền Phong ở Saigon từ số 1.Tthật ra, truyện đầu tiên của TQK là truyện “Vực
Thẳm”, đăng báo Tự Do năm 1955. Nhưng vì Vực Thẳm không được in thành sách nên không tìm lại được.


https://app.box.com/s/02ovn5f09w51nwdkyxtc7na3s5jqoy4v

Wednesday, September 3, 2014

   NHỮNG NGƯỜI BẠN VĂN NGHỆ
                                           Tạ Quang Khôi

T
ôi may mắn được tham dự sinh họat văn nghệ, báo chí miền Nam Việt Nam suốt hai mươi năm. Vì thế, tôi biết khá nhiều chuyện về các văn nghệ sĩ lẫn ký giả nổi tiếng trước năm 1975.
Hồi học Chu Văn An, Hà Nội, tôi chỉ làm thơ, chưa viết văn, thỉnh thoảng mới viết
một truyện ngắn đăng báo. Vì không bao giờ nhận được nhuận bút nên tôi không tha thiết với việc viết văn. Thơ của tôi ở mức trung bình nên cũng được nhiều báo đăng. Nhờ vậy, tôi bắt đầu quen biết một số các văn nghệ sĩ Hà Nội.
            Tôi quen Hoàng Song Liêm trong một kỳ thi Tú tài 1. Liêm tuy còn đang học trung học nhưng đã là chủ bút tờ tuần san Chiếu Bóng và giữ mục giải đáp tâm tình với bút hiệu Người Xứ Mộng.
Vì cả hai chúng tôi cùng làm thơ nên có ý định xuất bản chung một cuốn thơ, tựa là “Nắng Mới”. Thơ đã chọn lựa xong, tiền in cũng đã để dành đủ. Một hôm, để ăn mừng tác phẩm văn chương sắp ra lò, chúng tôi vào một nhà hàng ở gần bờ hồ Hoàn Kiếm, tên là Tùng Linh. Nhà hàng này có một món rất đặc biệt là pâté chaud. Vì món ăn ngon quá, ngày nào chúng tôi cũng tới để ăn mừng cuốn sách sắp ra lò. Vì chúng tôi tin rằng cuốn thơ “Nắng Mới” sẽ gây nên một xúc động lớn trong giới văn học thủ đô Hà Nội, chắc chắn những người yêu văn nghệ phải hâm mộ chúng tôi triệt để, nên chúng tôi càng phải “ăn mừng” nhiều hơn. Rồi đến một hôm, chúng tôi kiểm điểm lại số tiền in thì thấy hao hụt trầm trọng, không còn đủ để đưa nhà in nữa. Thế là ý định in thơ của chúng tôi nguội lạnh, trong khi đó pâté chaud vẫn nóng hổi. Thì ra chỉ vì cái tật tham ăn của chúng tôi mà hội đồng giám khảo giải văn học Nobel lỡ dịp tuyên dương một tác phẩm để đời.
Sau đó, nhờ Liêm tôi quen anh của ông là Hoàng Phụng Tỵ. Ông Tỵ lúc đó đã có thơ xuất bản, cuốn “Hương Thơ Mùa Lọan” được nhiều người ái mộ. Ông là một sĩ quan, bị thương ở mặt vì cánh quạt trục thăng nên mặt có sẹo. Vì thế, ông thường đến thăm tôi vào buổi tối và không chịu vào nhà có đèn sáng, chỉ thích đứng cửa nói chuyện văn chương, thơ phú.
            Nguyễn Quốc Trinh cũng là một nhà thơ mà tôi thân. Nhưng chúng tôi chỉ liên lạc với nhau một thời gian ngắn, Trinh bỗng bỏ Hà Nội để trốn ra vùng kháng chiến vì muốn được gần ông chú là thi sĩ Nguyễn Ðình Thi.
            Vào thời đó, có hai người cũng làm thơ đều tên Ngư mà tôi quen là Ðặng Bá Ngư và Lê Nguyên Ngư. Ðặng Bá Ngư có bút hiệu là Song Nhất Nữ. Lê Nguyên Ngư, khi di cư vào Nam, đổi thành Hồ Nam và Vương Tân (khi làm thơ). Song Nhất Nữ khá nổi tiếng vì thơ của ông ngày nào cũng xuất hiện trên nhật báo Tia Sáng. Rồi bỗng một hôm, thơ Song Nhất Nữ biến mất. Hỏi ra mới biết ông xuống Hải Phòng lo làm ăn nuôi gia đình. Bút hiệu của ông làm nhiều người thắc mắc. Ông là phái nam sao lại ký là Song Nhất Nữ ? Một hôm, tôi hỏi ông về bút hiệu này, ông giải thích :”Song Nhất là hai, Nữ là con gái. Vậy Song Nhất Nữ là Cô Hai.” Phải chăng ông yêu một người con gái tên Hai hay người con gái thứ hai trong gia đình nào đó ?
Khi di cư vào Nam năm 1954, vì sinh kế, tôi phải viết truyện đăng báo hàng ngày. Có một thời, tôi phải viết ba truyện dài cho ba nhật báo. Chỉ khi bắt đầu học đại học sư phạm tôi mới bỏ bớt hai báo để có thì giờ đèn sách.
Văn, thi sĩ miền Nam rất nhiều, tôi không có hân hạnh quen biết hết. Tôi làm hai
nghề một lúc, vừa dạy học vừa viết báo nên không có nhiều thì giờ giao du, chỉ được gặp một số nhỏ.
            Sau khi nhật báo Tự Do đóng cửa, tôi được ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hòang mời viết cho nhât báo Ngôn Luận và tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong. Ðồng thời tôi trúng tuyển kỳ thi biên tập viên tin tức của đài phát thanh Saigon. Khi viết cho Văn Nghệ Tiền Phong và Ngôn Luận, tôi được gặp Hoàng Hải Thủy và Thanh Thương Hoàng. Sự liên lạc của chúng tôi đến nay vẫn mật thiết dù đã hơn nửa thế kỷ.
            Thanh Thương Hoàng ở xa, San José (CA), nên chúng tôi chỉ có thể liên lạc với nhau qua email. Dù ít gặp nhau, nhưng mỗi lần nghĩ đến ông, tôi lại không thể quên cái công của ông với làng báo Saigon khi ông lập ra Làng Báo Chí gần Thủ Đức. Làng báo chí nằm bên tay trái xa lộ Biên Hòa nếu đi từ Saigon. Có nhiều ký giả, nhà văn đã được cấp nhà, chấm dứt tình trạng đi ở thuê. Sau này, gặp ông ở hải ngoại, ông cho biết đa số người được cấp nhà trong làng báo chí không chịu trả tiền nên khi miền Nam “đứt phim” ông còn nợ Nha Kiến Thiết 350 triệu.
Làm đài phát thanh Saigon, tôi quen thân với ban Tao Ðàn của thi sĩ Ðinh Hùng. Ngoài ông trưởng ban đã thân từ những ngày làm báo Tự Do, tôi bắt đầu quen biết các nhân viên trong ban, như : Huy Quang, Thanh Nam, Thái Thủy và Tô Kiều Ngân,
Ngay từ những ngày còn ở Hà Nội, tôi đã đọc truyện của Huy Quang, Vào thời đó, các nhà văn trẻ mới nổi, có Nguyễn Thiệu Giang, Huy Quang, Thanh Nam, Nguyễn Minh Lang…Truyện của Huy Quang đã được nhà xuất bản Văn Hồng Thịnh in và phát hành..Thanh Nam cũng đã có truyện xuất bản. Tôi đọc “Lỡ Mộ Đời Hoa” của ông rất say mê. Đó là một truyện tình lãng mạn, rất bay bướm. Nguyễn Thiệu Giang viết nhiều truyện ngắn hấp dẫn.vì cách hành văn rất lạ và bay bướm. Nguyễn Minh Lang có tác phẩm “Hoàng Tử Của Lòng Em” để tặng riêng một nữ ca sĩ xinh đẹp đang nổi tiếng ở Hà Nội. Ngay trang đầu của cuốn sách có hình một trái tim màu đỏ tươi và một dấu hỏi cũng màu đỏ. Có người giải thích trái tim và dấu chấm hỏi là tên nữ ca sĩ mà tác giả đang yêu : Tâm Vấn.
Vào Nam, khi làm cho đài phát thanh Saigon, tôi được biết trụ sở của đài phát thanh Saigon cũng là trụ sở tạm của đài phát thanh quân đội. Văn phòng của đài phát thanh quân đội chỉ là một phòng nhỏ ngay chân cầu thang. Một hôm, tôi thấy một trung úy đang ngồi viết bài trong phòng đó. Tình cờ nhà văn Thanh Nam cũng đang lên lầu với tôi nên tôi hỏi nhỏ ông về viên trung úy đang hí hoáy viết. Thanh Nam cho biết đó là Huy Quang. Thì ra chính là nhà văn mà tôi hâm mộ từ ngày còn ở Hà Nội. Bỗng Thanh Nam nắm tay tôi kéo xuống thang, dắt tôi đến trước mặt Huy Quang để giới thiệu. Tình bạn giữa Huy Quang và tôi thân thiết nhanh chóng vì hợp tính hợp tình.
Khi Huy Quang là trung tá, được thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ bổ nhiệm làm tổng giám đốc Nha Vô Tuyến Truyền Thanh Việt Nam. Ông gửi văn thư sang bộ Giáo dục xin tôi về làm phó tổng giám đốc. Bộ Giáo Dục liền chuyển tôi sang bộ Thông Tin. Vì không hiểu thủ tục hành chánh, tôi lên bộ Giáo dục để hỏi ông giám đốc nha Nhân viên sao không chuyển thẳng về đài phát thanh lại cho tôi sang bộ Thông Tin. Ông giám đốc giải thích rằng bộ nọ liên lạc với bộ kia, không thể liên lạc trực tiếp với tổng nha được. Tôi băn khoăn hỏi thêm về thủ tục hành chánh, ông giám đốc cho biết khi tôi đã trình diện bộ Thông Tin, tôi sẽ là người của bộ này. Nếu ông Vũ Đức Vinh không còn làm tổng giám đốc Nha Vô Tuyến Truyền Thanh nữa, tôi sẽ phải về bộ Thông Tin vì tôi là người của bộ này. Lúc đó rất phiền cho tôi vì tôi là công chức ngạch A, trong khi đó đa số nhân viên bộ Thông Tin thuộc ngạch B hoặc phù động. Nếu tôi không có vây cánh, người ta có thể bổ nhiệm tôi vào một chức vụ nào đó xa Saigon, tôi không có quyền từ chối. Nghe giải thích như vậy, tôi hoảng sợ, không dám trình diện bộ Thông Tin nữa. Tôi đành phụ long tốt của ông Vinh.
Sau này, khi đã ở Mỹ, cuối năm 2004, tôi bay sang Seattle (WA) thăm ông Vũ Đức Vinh và một số bạn định cư ở đó. Ông Vinh lại trách tôi đã không chịu làm phó cho ông vì ông tin rằng nếu ông trở về quân đội, tôi sẽ lên thay. Tôi không tin như vậy vì tôi không có vây cánh ở bộ Thông Tin. Trong dịp thăm viếng này, tôi thấy ông Vinh mập quá nên khuyên ông phải cố gắng ăn “diet” và tập thể dục cho xuống cân. Ông chỉ cười tỏ vẻ không đồng ý. Vào cuối năm 2005, tôi nghe tin ông phải làm “by-pass” và trong khi cuộc giải phẫu đang tiến hành thì ông bị nhồi máu cơ tim nên đã qua đời.
Người thứ hai trong ban Tao Đàn tôi thân và quý mến là Thanh Nam. Ông tên thật là Trần Đại Việt, người Thái Bình. Ông hiền lành, dễ tính. Ông nghiện thuốc lá và bia.Tật của ông là hay rung đùi. Vào những năm cuối thập niên 1950, bọn tôi thường đến bar Hòa Bình, gần chợ Bến Thành, để nghe hát. Thanh Nam yêu một nữ ca sĩ và cũng được nàng yêu lại. Ông hỏi cưới người yêu, nhưng không được toại nguyện. Sau đó, ông kết duyên với nữ văn sĩ Túy Hồng, người Huế. Túy Hồng cũng là một nhà giáo, dạy ở trường trung học Mạc Đĩnh Chi, Saigon. Trước biến cố 30 tháng 4 năm 1975, gia đình Thanh Nam được Mỹ bốc ra khỏi Việt Nam vì ông làm cho đài phát thanh Tự Do của Mỹ, mà ông Vũ Quang Ninh làm giám đốc.
Năm 1982, gia đình tôi vượt biên, rồi được đinh cư ở Mỹ. Vào giữa năm 1984, khi tôi ở Sacramento (CA) thì liên lạc được với Thanh Nam ở Seattle (WA). Lúc đó ông đã bị ung thư cổ và đã giải phẫu cắt chỗ bị ung thư nên không còn nói được nữa. Khi biết địa chỉ tôi, ông gửi tặng tôi cuốn thơ “Đất Khách” với lời khuyến khích :”Cầm bút lại đi nhé !”
“Đất Khách” có hai mươi mốt (21) bài, bài nào cũng hay và cảm động khi nhắc tới quê hương xa xôi nửa vòng trái đất. Riêng tôi, tôi thích nhất bài “Khúc Ngâm Trên Đất Tạm Dung”.
                                       Uống say mai sớm bạn lên đường
                                       Thân lại nương nhờ chốn viễn phương
                                       Trăm hận nghìn đau nào sánh nổi
                                       Tấm lòng lưu lạc nhớ quê hương ?
                                       Ta như going bão tan rồi hợp
                                       Trôi dạt còn hơn song đại dương
                                       “Lận đận bên trời chung một lứa…”
                                       Say càng chua xót, tỉnh càng thương
                                       Tháng năm xa mãi thời hoa mộng
                                       Râu tóc thêm gần với tuyết sương.
                                       …        
Đầu tháng 2 năm 1985, Huy Quang Vũ Đức Vinh gọi dây nói báo tin Thanh Nam đã ra đi.
Người bạn Tao Đàn khác mà tôi thân là thi sĩ Thái Thủy, tác giả bài thơ “Thư gửi Mẹ” được nhạc sĩ Nguyễn Hiền phổ nhạc :
                                       Mẹ ơi, thôi đừng khóc nữa
                                       Cho long già nặng sầu thương.
                                       Con đi say tình viễn xứ,
                                       Đâu có quên tình cố hương…
Tôi không hiểu Thái Thủy làm đài phát thanh từ bao giờ mà rất thông thạo về ngành vô tuyến truyền thanh. Chuyện gì ông cũng biết, mà biết rất tường tận. Có người gọi đùa ông là Kissinger.
Thái Thủy lấy vợ rất muộn. Người vợ đầu tiên của Thái Thủy là con gái nhỏ của nhà văn Mặc Thu Lưu Đức Sinh. Tôi không rõ ai đã làm mai hay làm sao hai người quen biết nhau  để có thể trở thanh vợ chồng. Trong đám cưới, ngâm sĩ Hoàng Thư của ban Tao Đàn lên  máy vi âm nói đùa là từ nay Thái Thủy phải gọi ông là bác vì ông cùng tuổi và là bạn của nhà văn Mặc Thu.
Khi cộng sản chiếm miền Nam, Thái Thủy phải đi tù cải tạo, bà vợ lấy chồng khác. Ít lâu sau, ông được đi Mỹ theo diện HO cùng với bà vợ mới. Khi ông bị ung thư phổi vào giai đoạn cuối cùng đã vội vã bay về Việt Nam để thăm mẹ. Cụ là một sĩ quan trong ngành Quân Nhu của Việt cộng. Ông qua đời vào tháng 4 năm 2011.
Tô Kiều Ngân cũng là một nhân viên ban Tao Đàn, nhưng tôi không thân nên không biết gì nhiều về ông. Tôi thường gặp ông trong quán ăn trước cửa đài phát thanh Saigon. Ông nói giọng Huế, mặc quân phục, đeo lon trung úy. Khi nói chuyện, ông hay cười với bạn bè. Năm 2012 ông qua dời ở Huế, thọ 86 tuổi.
Về nhà văn Văn Quang, tôi cũng có chút kỷ niệm. Khi tôi đang làm đài phát thanh Saigon, ông cưới bà vợ đầu tiên. Tiệc cưới tổ chức ở nhà hang Động Phát, Chợ Cũ. Khi tôi vào nhà hang, một nhân viên đài phát thanh Saigon kéo tôi ngồi cùng bàn ngay. Nhưng tôi chỉ mới ngồi được vài phút, Văn Quang từ trên lầu xuống, ghé tai tôi nói nhỏ : ”Tao ở trên lầu, sao mày lại ngồi đây ?” Lúc đó tôi mới biết một nhân viên đài phát thanh cũng cưới vợ, nhưng không mời tôi. Người nhân viên quen thuộc tưởng tôi cũng đến dự đám cưới của bạn ấy nên mới muốn tôi ngồi cạnh. Thế là tôi vội vàng theo Văn Quang lên lầu. Sở dĩ tôi nói Văn Quang cưới bà “vợ đầu tiên” là vì ông đã ở chung với bảy bà khác nhau. Nếu tôi không lầm, Văn Quang chỉ làm hôn thú với bà thứ nhất. Sau khi ly dị với bà này, ông không làm hôn thú với ai khác nữa.
Tôi gặp Hoàng Hải Thủy và bắt đầu quen ông năm 1956. Khi báo Tự Do đóng cửa, tôi được ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng mời viết báo Ngôn Luận, rồi Văn Nghệ Tiền Phong với truyện dài “Mưa Gió Miền Nam”. Hoàng Hải Thủy viết cho Ngôn Luận phóng sự “Vũ Nữ Saigon”. Tôi không còn nhớ tôi viết cho Ngôn Luận những truyện gì, chỉ nhớ truyện cuối cùng là “Thầm Lạng”, một truyện tình cảm rất ướt át. Sau đó, tôi tạm ngưng viết truyện dài cho các báo để học sư phạm.
Về chuyện đi Mỹ của ông bà Hoàng Hải Thủy, tôi được biết ông bà sang Mỹ theo diện tỵ nạn chính trị. Khi biết tin ông bà đã tới Mỹ và tạm trú tại nhà bà Khúc Minh Thơ, cũng ở Virginia, tôi liền tới thăm và đưa ông đi chơi một vòng quanh thủ đô Washington DC. Chỉ ít lâu sau ông được chuyển vào nhà già khi building Elmwood vừa xây xong năm 1996. Từ đó, các bài viết của ông được ghi “Viết ở Rừng Phong”. Tám năm sau, khi con tôi, vì công việc làm, phải chuyển xuống Houston (TX), tôi không đi theo vì không muốn xa vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn có khí hậu ôn hòa, tôi xin vào nhà già. Tình cờ tôi được làm hang xóm của ông Hoàng Hải Thủy trong building Rừng Phong. 
Năm 1982, tôi cùng các con vượt biên và được định cư ở Mỹ. Nơi tôi đến đầu tiên là San José. Chúng tôi mới chân ướt chân ráo tạm trú tại nhà vợ chồng cô em nhà tôi thì ông Lê Thiệp đã biết tin, vội đến mời tôi đi ăn. Sau bữa ăn, ông đưa tôi về tòa soạn báo Kháng Chiến của Mặt trận Hoàng Cơ Minh và đề nghị tôi ở luôn trong tòa báo để lo bài vở cho tờ báo. Tôi cho biết tôi có ba con nhỏ đi cùng, phải cho tôi có thời gian thu xếp chuyện gia đình đã. Ngay buổi tối hôm đó, tôi gọi dây nói cho một ông bạn ở Nam Cali. Ông trước kia là đàn em thân tín của bác sĩ Trần Kim Tuyến  Ông liền khuyên nên chuyển đi nơi khác vì Mặt Trận là một trò bịp để moi tiền đồng bào tỵ nạn. Thế là tôi vội đưa các con lên Sacramento.
Tôi mới chỉ ở Sacramento được vài tháng, ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng bay từ Bắc Virginia sang thu tiền báo của các đại lý. Ông đề nghị tôi chuyển sang Virginia để làm báo Văn Nghệ Tiền Phong. Lúc đó gia đình tôi đang hưởng trợ cấp AFDC của chính phủ. Tính tôi không thích nhờ vả, ăn welfare là một chuyện bất đắc dĩ. Thế là tôi nghe lời ông lếch thếch đưa các con sang Virginia bằng xe buýt Greyhound. Ông Hồ Anh không chịu trả tiền phí tổn di chuyển cho tôi, viện cớ tôi có ba con nhỏ đi theo. Làm việc cho ông Hồ Anh là một bất đắc dĩ. Lương đã thấp lại không có bảo hiểm sức khỏe. Không những thế, khi tôi mới làm được ba tháng rưỡi, ông nghe ông Lê Triết đuổi tôi  với lý do tôi nằm vùng cho Mặt Trận Hoàng Cơ Minh. Một nách ba con nhỏ nơi xứ lạ quê người lại bị thất nghiệp thì không còn gì đau khổ cho bằng. Tôi đành xin ăn welfare trở lại. Đồng thời, tôi ráo riết tìm việc làm cho sở Mỹ. Nhưng chưa đầy một tháng, ông Hồ Anh đến tận nhà tôi xin lỗi vì đã đuổi oan tôi, nay ông đã biết tôi không có liên lạc gì với Mặt Trận. Vào dịp này, ông Hồ Anh xuất bản tờ “Tiểu Thuyết Nguyệt San”, cho tôi làm chủ bút. Nhưng tờ Tiểu Thuyết Nguyệt San mới ra được 11 số thì tôi được một sở Mỹ gọi đi làm. Tôi liền báo cho ông Hồ Anh biết và nghỉ việc ngay tức khắc. Ông giao tờ Tiểu Thuyết Nguyệt San cho thi sĩ Hoàng Anh Tuấn phụ trách. Nhưng không hiểu sao ông Hoàng Anh Tuấn bỏ ngang, nhường cho ông Hà Bỉnh Trung thay thế. Sau đó, tôi không liên lạc gì với báo chí Việt Nam nữa. Lương sở Mỹ gấp ba lương Văn Nghệ Tiền Phong, lại có bảo hiểm sức khỏe cho cả gia đình.
Tôi làm cho sở Mỹ đến cuối năm 1998 thì xin về hưu. Lúc đó tôi đã gần 70, sợ không còn đủ sức khỏe để làm những chuyện cần thiết cho riêng mình trước khi ra khỏi cõi đời này. Chính nhờ thời gian rảnh rỗi này, tôi đã viết được nhiểu truyện ngắn, truyện dài, khảo cứu văn học và hồi ký. Truyện cuối cùng la truyện “Bể Dâu” tôi viết xong vào tháng 8 năm 2013.
Tôi không nhớ tôi quen nhà văn Doãn Quốc Sỹ trong trường hợp nào, tôi chỉ nhớ hồi còn ở Saigon thỉnh thoảng tôi đến thăm ông. Nhà ông ở trong một ngõ hẻm đường Thành Thái. Mỗi lần đến chơi, tôi đều được bà Sỹ đàn dương cầm cho nghe. Bà là con gái nhà thơ trào phúng Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu, trong Tự Lực Văn Đoàn.
Ông Doãn Quốc Sỹ cũng là một nhà giáo. Ông đã có bằng cao học giáo dục ở Mỹ. Ông rất hòa nhã và lúc nào cũng vui vẻ với bạn hữu. Ông hơn tôi 6 tuổi nên tôi coi ông là bậc đàn anh cả về văn nghệ lẫn giáo dục. Nhưng ông lại vẫn coi tôi ngang hang như bạn.
Khi cộng sản chiếm miền Nam, ông phải đi tù cải tạo, rồi sau này gia đình ông được sang Mỹ theo diện HO. Ở Mỹ, tôi chỉ được gặp ông có một lần khi hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại họp đại hội ở Virginia. Sau đó, tôi không bao giờ được gặp ông nữa. Cách đây mấy năm, tôi nghe tin bà Sỹ qua đời.
Trong thời gian làm cho Văn Nghệ Tiền Phong, tôi được gặp và quen biết nhà văn Sơn Tùng. Lúc đó, ông ở tiểu bang khác, chỉ gửi bài cho cả Văn NghệTiền Phong lẫn Tiểu Thuyết Nguyệt San. Lối viết của ông đặc biệt, dí dỏm. Ông Hồ Anh rất thích văn của ông nên mời ông về Virginia làm chủ bút cho Văn Nghệ Tiền Phong. Tòa báo chịu mọi phí tổn di chuyển và tạm thời cho ông Sơn Tùng ở trong ngôi nhà mới mua của ông Nguyễn Thanh Hoàng tại McLean. Tình bạn của tôi với Sơn Tùng vẫn thân thiết cho đến ngày nay. Ngoài bút hiệu Sơn Tùng, ông còn hai bút hiệu khác nữa là Sương Lam và Thợ Hồ.
Năm 2007, ông Sơn Tùng, lúc đó là chủ tịch Văn Bút Việt Nam Hải ngoại, cho biết Đại Hội Văn Bút sẽ họp váo tháng 10 ở Bắc Virginia và có ý định tuyên dương ba người trong vùng thủ đô Mỳ, đó là : Vũ Hối, Vương Đức Lệ và tôi, Tôi từ chối cái vinh hạnh đó vì tự xét không xứng đáng..Thế là chỉ có hai ông Vũ Hối và Vương Đức Lệ được tuyên dương.
Về nhà văn Phan Nghị, tôi biết ông từ hồi còn ở Hà Nội khi ông viết phóng sự “Bờ Lờ” cho báo Tia Sáng. Tôi hiểu “bờ lờ” là buôn lậu, nhưng có người lại giải thích khác. Bờ lờ là…bổ lẻ. Ở ngoài hậu phương, trong thời gian chống Pháp, khi phải di chuyển xa, nếu có đường thủy thuận tiện, người ta đi thuyền cho đỡ mệt. Về đêm, khách đi thuyền thường phải ngủ chung trong khoang, cả nam lẫn nữ. Rồi chuyện “bất thường” có thể xảy ra. Đến sang, khi lên bờ, mỗi người đi một nẻo, không cần biết nhau nữa. Có phải như vậy là bổ lẻ (bờ lờ) không ?
Một hôm, tôi đang đi trên vỉa hè phố Huế,gần chợ Hôm với một người bạn cùng học Chu Văn An, một người đi xe đạp, miệng ngậm điếu thuốc lá, tay áo sơ mi ngắn vén cao lên, trông rất tay chơi, ghé vào vỉa hè để nói chuyện với một người đang đứng đợi. Bạn tôi nói nhỏ với tôi :”Ông Phan Nghị, tác giả Bờ Lờ đấy.”
Tôi không có hân hạnh quen Phan Nghị ngay hồi đó. Mãi về sau này, khi di cư vào Nam, tôi tham gia sinh hoạt văn nghệ mới quen ông. Một hôm, tôi đến tòa báo Ngôn Luận để đưa bài, gặp ông ở đó. Ông là một nhân viên tòa soạn. Trông thấy tôi, ông vừa cười vừa nói :”Mày đen như ống khói ấy.” Tôi tưởng ông chỉ nói đùa cho vui, không ngờ cuối tuần đó, trong mục Tin Văn Nghệ của báo Bông Lúa, ông gọi tôi là Tạ Ống Khói. Thế là tôi có hỗn danh từ đó (1957). Tôi không giận ông vì biết tính ông hay đùa vui, không có ác ý.
Phan Nghị viết phóng sự hay nên được thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ có cảm tình đăc biệt. Có lần ông được ông Kỳ cho ngồi máy bay khu trục đi theo đoàn máy bay ra Bắc vĩ tuyến 17 để oanh tạc đất Bắc. Khi có hội nghị Paris, ông cũng được ông Kỳ cho sang Pháp theo dõi để viết phóng sự cho báo Chính Luận.
Bạn bè ai cũng biết ông có tính “phổi bò”, nghĩa là biết gì nói đó, không cần giữ ý. Ông dặn bạn bè là có gì cần giữ bí mật thì đừng cho ông biết.
Tôi quen thi sĩ Vương Đức Lệ rất tình cờ. Vào cuối thập niên 1990, tôi bắt đầu liên lạc với Văn Quang bằng email. Một hôm, người trả lời thư tôi không phải Văn Quang mà là Vương Đức Lệ.  Ông viết :”Anh Khôi ơi, tôi là Vương Đức Lệ.đây. Tôi đọc truyện anh từ hồi anh viết cho báo Tự do.” Tôi vừa ngạc nhiên vừa thích thú. Tôi biết tiếng Vương Đức Lệ từ lâu. Ông là một thi sĩ đã được giải thưởng văn chương toàn quốc cùng với thi sĩ Mai Trung Tĩnh. Tình bạn của chúng tôi bắt đầu từ ngày đó. Rôi khi gia đình ông được các bà em Lê Thị Ý, Lê Thị Nhị bảo lãnh sang Mỹ, lại cùng ở Virginia, chúng tôi thân nhau hơn. Thỉnh thoảng các bạn văn nghệ trong vùng họp nhau thì tôi lại được gặp ông. Ông nghiện thuốc lá rất nặng, mỗi ngày hút trên 20 điếu. Có lần tôi đề nghị ông giảm bớt dần, rồi bỏ luôn. Nhưng ông không đồng ý. Rồi chỉ khi ông bị ung thư phổi, phải thở bằng dây oxy thì mới bỏ được thuốc lá, nhưng đã quá trễ. Một hôm, tôi đến thăm, ông nằm trên giường bình tĩnh nói với tôi :”Xong rồi, ông ạ.” Mấy hôm sau, nhà văn Hoàng Hải Thủy gọi dây nói báo tin :”Vương Đức Lệ đi rồi.”,
Hồi còn ở Saigon, tôi không có hân hạnh quen nhà văn Uyên Thao. Thỉnh thoảng đến báo Chính Luận, tôi gặp ông, nhưng không ai giới thiệu cho chúng tôi quen nhau. Vì thế, tôi không biết ông làm cho báo nào. Mãi khi ra hải ngoại, tôi mới được quen ông. Hôm gia đình ông đến Mỹ theo diện HO, các bạn ở vùng Falls Church (VA) rủ tôi ra phi trường đón ông..
Uyên Thao là người có nhiều công với giới văn học hải ngoại khi ông sang lập Tủ Sách Tiếng Quê Hương. Khi bị ung thư bao tử, trước khi vào phòng mổ, ông gửi email chào vĩnh biệt các bạn. Nhưng cuộc giải phẫu thành công mỹ mãn.
Cuốn tiểu thuyết dã sử “Trong Ánh Lửa Thù” của ông được nhiều nhà phê bình văn học ca tụng nhiệt liệt.
Tôi không rõ thi sĩ Nguyên Sa và gia đình từ Pháp về Việt Nam bao giờ, một hôm, nhà văn Thanh Nam rủ tôi đến thăm ông. Nhà ông ở trong một hẻm gần chợ Thái Bình. Từ ngày đó tôi mới bắt đầu quen thi sĩ.
Năm 1960, Nguyên Sa xuất bản nguyệt san Hiện Đại, Thái Thủy làm thư ký tòa soạn. Nguyên Sa đề nghị tôi viết bài cho nguyệt san. Hồi đó tôi đang học sư phạm nên không có nhiều thì giờ, thỉnh thoảng mới có thể đóng góp một bài. Tôi không nhớ Hiện Đại ra được bao nhiêu số thì ngưng.
Ngoài việc làm thơ, viết văn, Nguyên Sa còn là một giáo sư Triết của Chu Văn An. Sau này, ông mở một trường tư riêng của ông, tên là Văn Học. Trường sở nằm trên đường Phan Thanh Giản. Gia đình ông ở ngay trong trường. Một hôm, chúng tôi tình cờ gặp nhau ở giữa đường. Ông lái xe Peugeot 403 màu xám nhạt, tôi đi xe Nhật. Thấy tôi, ông vẫy tay gọi. Chúng tôi ngừng lại ở giữa đường. Ông nói nhanh :”Đến moa ngay nhé.” Tôi không biết có chuyện gì, nhưng nhận lời vì đang rảnh. Ông đợi tôi ở ngay cửa trường Văn Học, đưa tôi vào nhà, phía sau trường. Ông đưa cho tôi một tập bản thảo và đề nghị tôi đem về đọc. Trước khi chia tay, ông cho biết cuốn sách này bị sở Kiểm duyệt bộ Thông Tin không cho xuất bản. Về nhà tôi mở bản thảo ra, tựa sách là “Vài Ngày Làm Việc Ở Chung Sự Vụ”. Khi bị động viên vào Thủ Đức, Nguyên Sa  ra trường với lon chuẩn úy. Ông được bổ nhiệm vào Chung Sự Vụ, nơi lo việc mai tang các chiến sĩ bị tử trận. Ông đã chứng kiến những chuyện đau lòng của thân nhân những người quá cố. Sở Kiểm duyệt bộ Thông Tin coi cuốn sách có tinh thần phản chiến, nên cấm xuất bản.
Sau này tôi không rõ gia đình Nguyên Sa sang Mỹ bằng cách nào. Ông định cư ở Nam Cali và xuất bản tở tuần san Đời. Vào dịp đó, tôi không rõ vì lý do gì mà ký giả Lê Triết viết bài công kích Nguyên Sa, với lối viết rất độc địa, bới móc cả than phụ thi sĩ. Tôi không được đọc báo Đời nên không biết Nguyên Sa có trả lời không ?
Hậu quả lối viết độc địa của Lê Triết là cả hai vợ chồng ông đều bị bắn chết trên xe hơi ở trước cửa nhà. Vụ ám sát này không được làm sang tỏ vì cảnh sát Mỹ không chịu điều tra đến nơi đế chốn nên không biêt ai là thủ phạm. Người ta chỉ phỏng đoán Mặt Trận Hoàng Cơ Minh chủ mưu. Lê Triết đã viết nhiều bài tố cáo Mặt Trận lừa bịp những người yêu nước chống cộng ở hải ngoại để quyên tiền..
Trong thời gian Lê Triết bới móc gia đình Nguyên Sa, tôi đang làm cho Văn Nghệ Tiền Phong nên bị Nguyên Sa ghét lây vì tưởng tôi về phe Lê Triết. Khi nghe tin thi sĩ bắt đầu bị ung thư. Tôi bay xuống Nam Cali để thăm ông, nhưng ông không tiếp vì cho tôi về phe với Lê Triết.. Thật đáng buồn đã không được gặp ông trước khi ông ra khỏi cõi đời này.
Tôi không về phe với Lê Triết vì chính tôi cũng là nạn nhân của ông, như tôi đã đã kể ở trên.
Khi ông Hồ Anh xuất bản tờ Thời Thế thay cho Ngôn Luận mới bị đóng cửa vì không kịp nộp tiền hối lộ (300 ngàn) cho ông tân bộ trưởng Thông Tin mới là tướng Đỗ Mậu, tôi làm phụ tá cho chủ bút là nhà văn Lê Xuyên, tác giả cuốn tiểu thuyết rất nổi tiếng “Chú Tư Cầu”.. Ông Lê Xuyên là người Nam, có một thời hoạt động cách mạng, theo đảng Ðại Việt nên đã từng ra Bắc và lấy vợ Bắc. Ông hiền lành, dễ tính, nói năng từ tôn, khác hẳn các nhân vật trong truyện của ông. Sau năm 1975, khi tôi dã sang Mỹ, nghe tin ông phải bán thuốc lá ở một góc đường Khổng Tử trong Chợ Lớn để tạm sống cho qua ngày. Cách đây khoảng 7 hay 8 năm, bạn hữu ở Saigon báo tin ông đã từ trần.

Vế các nhà văn nữ, tôi chỉ quen một số ít. Tôi có bốn bà em kết nghĩa. Mấy bà gọi tôi là Anh Hai. Cô Ba là Trần Thị Lai Hồng, một nghệ sĩ chuyên về tranh trên lụa, nên lấy tên email là Art On Silk. Tôi quen Lai Hồng khi cùng làm đài phát thanh Saigon vào cuối thập niên 1950. Cô Tư không viết văn mà cũng không hoạt động trong ngành nghê thuật, nhưng có liên hệ mật thiết với nghệ thuật. Cô là em kết nghĩa của nữ danh ca Thái Thanh và ở chung nhà với gia đình Thái Thanh. Khi Lê Quỳnh ghen với Mai Thảo, rút sung bắn vợ. Thanh Sơn liền đứng vào giữa hai người để hừng đạn cho bà chị kết nghĩa. Thanh Sơn không chết, chỉ bị mất một lá phổi nên bị xuyễn nặng. Thanh Sơn đã từ trần, thọ 79 tuổi. Người em kết nghĩa thứ ba là Cô Năm, tức Đặng Mỹ Dung, Yung Krall, tác giả cuốn “Ngàn Giọt Lệ Rơi.” (A Thousand Tears Falling). Em út là Đỗ Dung, tác giả tuyển tập truyện ngắn “Như Một Thoáng Mây Bay”.Có lần Đỗ Dung nói đùa với tôi :”Chỉ mình em là út thôi đấy nhé, không có út thêm hay út hai, út ba gì nữa đấy.” Tôi thân với Đỗ Dung vì khi gia đình Dung vượt biên, tôi gửi thằng con thứ hai đi cùng. Mỗi khi liên lạc qua email, Dung gọi tôi là Anh già và xưng Út.
Trong vùng Virginia có một số nữ văn nghệ sĩ, như : Lê Thị Ý, Lê Thị Nhị, sang lập và chủ trương tờ nguyệt san Kỷ Nguyên Mới, Hồng Thủy, tác giả cuốn “Những Cánh Hoa Dại Màu Vàng”, Ngọc Hạnh với tác phẩm “Du Ngoạn Đó Đây”...Dù thân, tôi cũng ít liên lạc với các bà vì tôi đã lớn tuổi, không còn thích tham dư các buổi họp mặt.
Ngoài ra, tôi cũng còn quen biết một số văn nghệ sĩ khác nữa, nhưng tôi không muốn nhắc tới họ với những lời tiêu cực.

                                                                                                                TQK
                                                                                                             (7-2014)                                       
                                                                          

Monday, June 30, 2014

Quê hương tôi

Làng tôi đấy, mây chiều vương ngõ biếc,
Nắng hoàng hôn sưởi ấm mái tranh nghèo.
Đoàn mục tử đùa vui trong tiếng sáo,
Thôn nữ cười e ấp mộng tình yêu.

Làng tôi đấy, Hồng hà cuồn cuộn sóng,
Ruộng đồng xa bát ngát cánh cò bay.
Mùa gặt mới ngào ngạt hương lúa chin,
Trai tráng làng ngây ngất chút men say..

Làng tôi đấy, ôi, còn đâu dĩ vãng,
Thôn nữ buồn ngơ ngác ngọn cờ hồng.
Thân nô lệ, trai làng trong khắc khoải,
Tương lai nào ? Chỉ bóng tối mênh mông.
                                      

                                                28 5 2014

Monday, October 14, 2013

Buồn vui nghề dạy học


HÀO HOA CỦA KIM TRỌNG
                     Tạ Quang Khôi

V
ào giữa niên học 1962-63, tôi được đổi từ Vĩnh Long về Mỹ Tho. Vì đổi vào giữa năm như vậy, nhà trường không thể xếp đủ giờ cho tôi…hành nghề. Ông giám học phải cắt xén bớt một số giờ của các giáo sư khác để tôi không phải “ngồi chơi xơi nước” mà cuối tháng vẫn cứ được nhà nước trả lương. Vì tôi là một giáo sư mới, nhà trường chưa biết khả năng của tôi nên không thể cho tôi phụ trách những lớp đi thi. Tôi ăn lương giáo sư đệ nhị cấp, không thể cho tôi dạy những lớp nhỏ. Sau khi tính toán, đắn đo, ông giám học cho tôi vào mấy lớp đệ Tam. Cách giải quyết đó vừa là một biện pháp ưu đãi (vì ông là bạn đồng môn của tôi ở sư phạm) vừa là một cách thử tay nghề. Ai cũng biết học sinh lớp đệ Tam quậy nhất trong bảy lớp trung học. Các em mới ra khỏi bậc đệ nhất cấp nên vẫn thuộc loại ”ăn chưa no, lo chưa tới”, lại chưa phải lo thi. Nhiều em nghịch ngầm và thường che chở lẫn nhau nên giáo sư khó tìm ra thủ phạm.
Năm ấy, trong những lớp đệ Tam do tôi phụ trách, có một lớp văn chương. Học văn chương thì cũng quậy theo văn chương. Nói cho ngay, dùng chữ “quậy” không đúng với các em trong lớp này. Các em có những câu hỏi về văn chương làm giáo sư cũng khó trả lời.
Một hôm, tôi giảng Kiều, đoạn Kim Trọng lấy được chiếc thoa cài tóc của Thúy Kiều, một học sinh có ý kiến :
- Thưa thầy, theo em, Kim Trọng là một tên ăn cắp, đã với tay sang nhà hàng
xóm lấy đồ.
            Cả lớp, kể cả tôi, đều ngạc nhiên về ý kiến mới lạ này. Tôi hỏi tại sao em lại nói như vậy, em bình tĩnh đáp :
- Thưa thầy, em xin đọc lại đoạn văn này để cả lớp cùng nhận định.
                                      Nhẫn từ quán khách lân la,
                                       Tuần trăng thấm thoắt nay đà thêm hai.
                                             Cách tường phải buổi êm trời,
                                       Dưới đào dường có bóng người thướt tha.
                                             Buông cầm, xốc áo, vội ra,
                                       Hương còn thơm nức, người đà vắng tanh.
                                             Lần theo tường gấm dạo quanh,
                                      Trên đào nhác thấy một cành kim thoa.
                                             Giơ tay, với lấy về nhà :
                                     “Này trong khuê các đâu mà đến đây ?...”
Như vậy, rõ ràng là Kim Trọng thò tay sang nhà hàng xóm lấy trộm kim thoa.
            Cả lớp im lặng như tờ, chính tôi cũng chưa biết nói sao. Ngưng một chút, em tiếp :
- Thưa thầy, phải giơ tay, với mới tới thì chắc chắn chiếc thoa phải ở sâu trong
vườn nhà Kiều, chớ không ở sát bờ rào. Hàng xóm nhà em có một cây mận gần bờ rào. Nếu cành mận xòa hẳn sang vườn nhà em, em mới có quyền hái trái mà không bị tiếng là ăn trộm. Em mà bắt chước Kim Trọng với tay sang nhà hàng xóm lấy đồ, chắc chắn sẽ bị đánh què tay.
Ngay lúc đó, tôi không biết nói sao, vì lý lẽ của em học sinh đúng quá. Ðưa tay sâu vào vườn nhà người khác để lấy đồ vật không phải của mình chắc chắn là một kẻ ăn trộm. Nếu, vì một lý do nào đó, đồ của mình rớt vào vườn nhà người ta, muốn lấy lại, mình cũng phải xin phép chủ nhà đàng hoàng, không thể tự tiện thò tay vào lấy. Học sinh trong lớp bắt đầu xôn xao bàn tán. Ai cũng khen ý kiến của bạn là đúng, là độc đáo. Một em học sinh khác bỗng nói lớn :
- Vậy mà cứ khen là “vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa” Hào hoa mà đi
ăn trộm đồ nhà hàng xóm.
Thế là cả lớp cười ồ lên. Tôi cũng đành cười theo. Em học sinh vừa có ý kiến
độc đáo lại nói thêm :
- Thưa thầy, đã không biết mắc cở, sáng hôm sau Kim Trọng còn bắt bí Thúy
Kiều phải thề thốt nữa. Như vậy là tống tình chớ không phải tỏ tình.
Cả lớp lại cười.
Tối hôm đó, tôi tìm trong bản Kiều dịch sang tiếng Pháp xem những chữ “giơ tay
với lấy” đã được dịch như thế nào. Theo bản dịch của giáo sư Nguyễn Cửu Chấn thì bốn chữ đó được dịch như sau : “Etendant le bras, il prit l’objet et le ramenant chez lui.» Ðã hơn bốn chục năm qua, tôi không dám chắc câu dịch vừa kể hoàn toàn đúng 100%, nhưng nếu sai cũng không sai bao nhiêu. Như vậy là rõ ràng Kim Trọng đã đưa tay sâu vào vườn nhà người khác, không phải như chàng nói với Kiều vào sáng hôm sau : «Thoa này bắt được hư không, Biết đâu Hợp phố mà mong châu về.» (Bắt được hư không nghĩa là vô tình mà nhặt được). Sau này, khi đã sang Mỹ, nhớ lại chuyện cũ, tôi xem bản tiếng Anh của giáo sư Huỳnh Sanh Thông : «He reached for it and took it home.”.
Em học sinh có ý kiến độc đáo này sau khi đậu tú tái, lên Saigon học Triết ở đại học Văn khoa. Vì bận học, em ít liên lạc với tôi, rồi dần dần biến luôn. Nhưng tôi tin em đã trở thành một giáo sư Triết xuất sắc.
    
                           CƠN ÐẰNG TÂY
                             .
Trong một lớp học, thầy giảng về ca dao, tục ngữ, nói tới kinh nghiệm của người nông dân trong việc theo dõi thời tiết để canh tác.. Nào là “Mống đông, vồng tây, chẳng mưa dây cũng gió giật”, nào là “cơn đằng Ðông vừa trông vừa chạy, cơn đằng Nam vừa làm vừa chơi”…Một nữ sinh ngồi bàn đầu hỏi :”Thế còn cơn đằng Bắc và đằng Tây thì sao ?” Thầy chưa kịp trả lời vì trong ca dao, tục ngữ không nói tới cơn mưa ở hai phương đó, một nam sinh ngồi ở cuối lớp, tục gọi là “xóm nhà lá” vì nơi đây quy tụ phần lớn các học sinh nghịch ngợm, phá phách, bỗng nói lớn :”Thì vác chầy mà lộn chớ còn sao nữa.” Thoạt mới nghe, cả lớp không có phản ứng gì, thầy giáo cũng ngơ ngác không hiểu sao phải vác chầy mà lộn. Nhưng chỉ nửa phút sau, một nữ sinh khác mắng nho nhỏ :” Ðồ quỷ ! Chỉ ăn nói bậy bạ.” Thế là cả lớp hiểu ra, liền cười phá lên như một cái chợ vỡ. Thầy giáo cũng cười theo dù đã cố nhịn. Thầy cũng thầm phục cậu học sinh “nhỏ tuồi mà tài cao” Thầy cho rằng sự nghiệp văn chương trào phúng  của cậu chắc phải chói lọi lắm, nếu cậu lao vào “trường văn trận bút”. Chỉ tiếc rằng sau đó thầy hỏi “quý danh phương tánh” của cậu mà không ai chịu tiết lộ.
                                    
                               Cây trúc xinh

Cũng trong giờ giảng về ca dao, tục ngữ, thầy đề cập tới những lời tình tứ của con trai dành cho con gái, như :
                                              Trúc xinh, trúc mọc đầu đình,
                                              Em xinh, em đứng một mình cũng xinh
hoặc
                                                         Trúc xinh trúc mọc bờ ao,
                                                          Em xinh, em đứng chỗ nào cũng xinh.  
            Một vài nam sinh xì xào bàn tán :”Các cụ nhà ta nịnh đầm cũng một cây xanh rờn. Ngày nay đố có ai theo kịp.” Sau tiếng xì xào liền có những tiếng cười khúc khích. Thầy không phản ứng gì vì cho là câu nói đùa vô hại. Thầy định đọc thêm mấy câu ca dao tình tứ nữa , bỗng ở cuối lớp, một nam sinh gọi tên một nữ sinh thật lớn :
- Ngọc Hoa ơi ! Trúc xinh trúc mọc trong vườn, Hoa xinh Hoa có cởi truồng
 cũng xinh.
            Tức thí cả lớp cười phá lên.  Trò Ngọc Hoa ngồi ngay bàn đầu mặt đỏ ửng, nhưng cũng cười theo cả lớp. Thấy cũng không nhịn được cười và thầm phục tên học trò nhanh trí đã “phóng tác” cấp thời  để cả lớp cùng vui..

                              Tình không đợi tuổi
Tôi đang tìm cách đổi giờ cho một giáo sư vì ông mới được một trường tư mời dạy mà thời khóa biểu của trường tư lại trùng với trường công mấy giờ thì cửa phòng bật mở. Một nữ giáo sư hầm hầm bước vào phòng mà không báo trước. Tôi vội ngửng lên, nhận ngay ra vẻ tức tôi của bà. Mặt đỏ ửng và hai mắt rưng rưng. Bà là một nữ giáo sư trẻ mới đổi về trường đầu niên khóa này. Bà thuộc loại xinh xắn, duyên dáng, lại mới có con đầu lòng. Nhiều nam giáo sư trong trường còn độc thân cứ tiếc ngẩn tiếc ngơ vì đã không được gặp bà khi bà chưa có chồng. Một ông dạy quốc văn mỗi khi được gặp cô trong phòng giáo sư lại ông ổng ngâm bài ca dao “Trèo lên cây bưởi hái hoa…”  Bà bước thẳng đến bàn giấy của tôi, ném lên mặt bàn một tờ giấy gấp tư, rồi nói :
”Ông giám học xem thế này có láo không ?”
Tôi thong thả mở ra đọc. Ðó là một bức thư tình ngắn ngủi.
            “Lệ Hương yêu mến,
“Anh yêu em tha thiết. Hãy bỏ chồng để lấy anh.”
            Nguyện Văn Thưởng.”
Lệ Hương là tên cô giáo, còn Nguyễn Văn Thưởng thì tôi không biết là ai. Chỉ đoán lờ mờ là một tên học trò nào đó vì tuồng chữ còn non nớt. Tôi hỏi bà Hương ai đã gửi cho bà thư tỏ tình này ?  Bà cho biết đó một học sinh lớp Tám (trước kia là đệ ngũ). Tôi ngạc nhiên vì học sinh lớp Tám chỉ mới 13, 14 tuổi. Tuổi này cònh ham chơi, đâu đã biết yêu với thương. Không những thế, nó còn dám viết thư tỏ tình với cô giáo của mình. Tôi vội mở tủ tìm học bạ của nó để tìm hiểu. Nó thuộc loại học trò trung bình. Tôi ghi tên cha mẹ và địa chỉ của nó và quyết định phải giải quyết chuyện này nhanh chóng vì nếu còn tên học trò mất dạy này thì bà Lệ Hương không thể vào lớp đó được. Tôi tạm cho bà nghỉ dạy lớp này một tuần. Giờ của bà sẽ có giám thị vào giữ trật tự. Tôi viết thư mời bố mẹ nó đến gặp tôi gấp. Khi bố nó tới, tôi đưa lá thư của con ông ta viết cho bà Lệ Hương để ông hiểu rõ vấn đề mà không cần nói lôi thôi dài dòng. Đọc xong, ong tỏ vẻ ngượng ngùng, rồi ấp úng hỏi :
“Thầy tính sao ?”
Tôi đáp :
“Đó là lý do tôi mời ông đến đây.”
Suy nghĩ một lúc, ông khẽ thở dài nói :
“Tôi đành xin chuyển trường cho nó.”
Tôi đồng ý ngay :
“Đó là một biện pháp tốt đẹp.”

                                          X X
                                            X
Cuộc đời dạy học của tôi nhiều vui hơn buồn dù tôi đã từng bị học sinh thân cộng sách động biểu tình, bãi khóa trên sân trường để phản đối tôi. Ngoài những tên học trò than cộng ấy, tôi được nhiều học sinh quý mến mà cho đến nay, sau 40 năm rời khỏi trường vẫn liên lạc thường xuyên với tôi qua điện thư hoặc thư gữi bưu điện.
                                                                                           Tạ Quang Khôi

                                                                

Thursday, October 3, 2013

NIÊM VUI CUỐI ÐỜI
               Tạ Quang Khôi

Ô
ng Cảnh đã yêu Nhạn suốt cả cuộc đời. Trong tuyệt vọng và thầm kín. Nhạn là con gái đầu lòng của một người bạn thân. Người bạn này còn kém cả tuổi ông. Hai người cùng học một lớp với nhau nhiều năm. Khi người bạn lấy vợ, ông là một trong hai người rể phụ. Nhưng chính ông thì chưa bao giờ làm chú rể. Nhiều thầy bói đã cho biết số ông là số “cô độc cô quả”. Thật ra, ông cũng đã có một vài lần hỏi vợ, nhưng lần nào cũng dở dang và đổ vỡ. Có đám thì sắp đến ngày cười bỗng nhà gái từ hôn với lý do không rõ ràng. Có đám thì chính ông từ hôn vì bất ngờ trông thấy vợ chưa cưới đi chơi với một người đàn ông lạ mặt. Có điều đáng nói là dù đi hỏi vợ ông chưa hề thực tâm yêu một người con gái nào. Ông thấy bạn bè lần lượt có gia đình thì cũng muốn có một người vợ để đi về có nhau. Ông cũng nghĩ tới lời khuyên của một câu tục ngữ Pháp : ”L’appétit vient en mangeant”, nghĩa là cứ lấy vợ rồi sẽ yêu vợ.
            Tình yêu đến với ông rất muộn khi ông đã đi tới nửa đường của tuổi “bất hoặc”. Người yêu đầu tiên của ông lại chính là người con gái lớn của ông Thiện, người bạn học cũ của ông. Lúc đó Nhạn mới 15 cái xuân hồng. Như vậy, ông hơn nàng đúng 30 tuổi. Vì yêu một cách quá bất thường và mù quáng, ông giấu kín mối tình đó tận đáy lòng. Nhạn là một thiếu nữ xinh đẹp, có thân hình nẩy nỡ đều đặn sớm, nên có nhiều cậu trai theo đuổi ngay từ khi vừa tới tuổi dậy thì. Thấy ong bướm dập dìu như vậy, ông Cảnh buồn và lo lắm. Có lần ông đến thăm ông Thiện, thấy Nhạn thân mật cười nói với bạn trai, ông thầm ghen, nhưng biết mình không thể làm gì được, ông bỏ ra về một cách đột ngột, không lý do, khiến ông Thiện rất ngạc nhiên.
            Vì xinh đẹp, duyên dáng, có nhiều người yêu, Nhạn lơ là việc học hành nên chưa học hết bậc trung học đã lấy chồng năm 18 tuổi. Chồng nàng là con trai một nhà buôn giầu, cũng học hành dở dang như nàng. Sở dĩ nàng chọn anh chàng này vì anh đã chịu khó bỏ nhiều tiền ra mua những món quà đắt tiền mà nàng thích để tặng nàng. Ông bà Thiện không ưng chàng rể nhưng cũng phải bằng lòng. Thật ra ông bà đã ngầm chấm một cậu sinh viên trường thuốc cho con gái.
            Thấy Nhạn lấy chồng, ông Cảnh buồn lắm, nhưng biết thân biết phận mình, chả dám hở môi ra nói gì hết, dù có lúc ông Thiện ngỏ ý không ưng cuộc hôn nhân này, cho rằng Nhạn còn trẻ người non dạ, chưa biết chọn người xứng đáng.
            Hôm cưới Nhạn, ông Cảnh không dự, chỉ gửi mừng nàng một món quà đắt giá. Nhưng cuộc hôn nhân này không bền, chưa đầy hai năm, vợ chồng nàng đã chia tay. Nàng nói với bố mẹ là chồng nàng chưa trưởng thành. Con nhà giầu được nuông chiều quá đáng nên không hiểu gì về cuộc đời thực tế. Không những thế, bà mẹ chồng lại khó khăn, nghiệ ngã rất mực, bắt nàng vào khuôn vào phép đến cực khổ. Kết quả của cuộc hôn nhân là một bé trai mấy tháng tuổi. Bà mẹ chồng muốn bắt đứa bé vì nó là cháu đích tôn, nhưng nàng không chịu, bế con về với cha mẹ.
            Thấy Nhạn bỏ chồng, ông Cảnh mừng thầm và lại nuôi hy vọng.  Ông sẵn sàng nhận đứa bé làm con và ông tự biết ông đủ khả năng nuôi nó cho đến khôn lớn. Ông tính hôm nào thuận tiện sẽ ngỏ lời thẳng với Nhạn. Bây giờ nàng không còn là gái tân hơ hớ nữa. Ông tin rằng lần này ông có thể được nàng để mắt tới.  Nhưng tiếc rằng ông chưa có dịp nào thuận tiện ngỏ lời thì nàng đã lại…bước thêm bước nữa. Người chồng mới của nàng cũng còn trẻ, chưa hề lấy vợ. Anh ta là một sĩ quan trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Cuộc hôn nhân này còn ngắn ngủi hơn cuộc hôn nhân trước. Chưa đầy sáu tháng sau ngày cưới, anh đã vội vã…đền nợ nước. Thế là nàng lại góa bụa, ông lại hy vọng. Nhưng muốn tỏ tình với nàng không phải là một chuyện dễ dàng. Làm sao ông có thể mở miệng nói với con gái của bạn là ông yêu nó, muốn cưới nó làm vợ. Ông cố gắng tìm lời lẽ nào cho hợp tình bác cháu nghe khả dĩ lọt tai.
Ông lần lữa mãi vì chưa tìm ra lời mà cũng không dám hỏi ý kiến ai thì Nhạn lại ôm cầm bước sang thuyền thứ ba. Chủ thuyền này là một luật sư mới xong thời kỳ tập sự. Như vậy anh là người có thế giá cao, ít nhất so với ông Cảnh, một nhà giáo tầm thường. Lần này thì ông vừa thất vọng vừa giận nàng. Hừ, người gì mà lấy chồng lẹ như thay áo lót vậy, ông thầm trách nàng.
            Nhạn sống với người chồng thứ ba này khá lâu, nhưng không có con. Nàng khoe với bố mẹ là nàng được chồng rất chiều. Vì thế, nàng không thích có con, chàng luật sư cũng bằng lòng. Không những thế, chàng còn mua thuốc ngừa thai cho vợ. Nhưng người xưa đã nói :”Hồng nhan đa truân”, má hồng phận bạc. Vì thế, Nhạn cũng không thoát khỏi định luật đó. Sau khi cộng sản chiếm miền Nam, vơ chồng nàng vượt biên tìm tự do. Ghe bị hư máy giữa biển, lênh đênh trôi dạt theo sóng gió nhiều ngày. Thuyền nhân bị chết đói gần hết trước khi được một tầu buôn của Na Uy vớt. Trong số rất ít người sống sót có Nhạn. Khi được cứu tỉnh, nàng không hiểu tại sao nàng lại không chết cùng với chồng con. Số người sống sót này được đưa tới Singapore, rồi được định cư ở Mỹ.  Nhạn bị bệnh tâm thần hơn một năm trời mới khỏi.
Khi đã trở lại bình thường, nàng vào học trường đại học cộng đồng để vừa học Anh văn vừa học lấy một nghề. Trong thời gian đi học, nàng cũng phải đi làm để tạm sống. Cả ở trường lẫn nơi làm việc có nhiều đàn ông theo đuổi, nhưng nàng làm ngơ hết. Nàng chán chuyện chồng con rồi. Nàng nghĩ rằng trên cõi đời này không ai có thể bằng được người chồng luật sư của nàng. Tốt nhất là chẳng tơ vương làm chi cho nặng nợ.
Sau hai năm học, nàng có một nghề để có thể sống vững vàng. Nàng xin được một việc làm ở một sở Mỹ, lương cũng đủ sống. Khi đã tương đối ổn định, nàng lo giấy tờ bảo lãnh cho bố mẹ sang đoàn tụ với nàng. Ông bà Thiện được sang Mỹ sau hai năm chờ đợi. Trong khi đó, ông Cảnh cũng sang đoàn tụ với gia đình người em trai, nhưng phải chờ đợi tới bảy năm. Sang tới Mỹ, ông vội liên lạc ngay với ông bà Thiện, rồi thu xếp chuyển sang ở gần bạn. Ông chỉ có một thân một mình nên làm gì cũng sống được, ở thì thuê lại một căn phòng nhà người ta cũng xong. Ðiều cốt yếu là ông được ở gần Nhạn, khi nàng lại độc thân. Thật ra ở gần hay ở xa, tình trạng cũng chẳng thay đổi gì, vì ông có bao giờ dám tỏ tình với nàng. Mỗi khi gặp nhau, nàng bao giờ cũng cung kính “bác bác cháu cháu” khiến ông ngại ngùng.
Trong khi đó, Nhạn vẫn có nhiều người theo đuổi, cả Mỹ lẫn Việt. Nhưng nàng vẫn quyết tâm ở một mình cho…nhẹ nợ. Vết thương cũ vẫn chưa lành trong tâm hồn nàng. Thỉnh thoảng, về đêm nàng vẫn khóc thương thằng con chết yểu.
Tháng ngày êm ả trôi, rồi ông Cảnh đến tuổi về hưu khi Nhạn mới 35, cái tuổi đẹp lộng lẫy của một thiếu phụ có nhan sắc. Soi gương thấy mình già, mặt mũi nhăn nheo, tóc đã nhiều muối hơn tiêu, ông biết mình không còn hy vọng gì nữa, đành cố quên đi hình bóng người đàn bà ông ấp ủ suốt hai chục năm trời. Mấy năm sau, ông Thiện, rồi bà Thiện cũng vể hưu. Hai ông bà từ ngày sang Mỹ vẫn ở chung với con gái nên để dành được khá nhiều tiền. Còn ông Cảnh cũng có cuộc sống thoải mái hơn khi ông được nhận vào một khu nhà dành cho người già, được nhà nước giúp đỡ
Rảnh rỗi, ông bà Thiện thường cùng nhau đi chơi xa. Trong một chuyến đi thăm một người bạn ở tiểu bang khác, lúc trở về, ông bà đã gặp tai nạn trên xa lộ. Cả hai cùng chết ngay tại chỗ. Kẻ gây tai nạn là một tài xế xe vận tải hạng nặng, đã ngủ gật để cho xe vượt làn ranh giữa sang đường ngược chiều. Công ty xe vận tải chịu mọi trách nhiệm và hãng bảo hiểm của công ty xe phải bồi thường cho Nhạn một số tiền lớn. Nhưng số tiền này cũng không sao cứu nàng khỏi cơn mê sảng. Khi nghe tin cha mẹ bị tử nạn, nàng bị xúc động quá mạnh nên té xuống đất hôn mê ngay. Từ đó, dù các bác sĩ tâm thần đã tận tình chạy chữa, nàng không sao trở lại được bình thường. Ngay cả khi được coi là tỉnh, nàng vẫn ngơ ngơ ngác ngác, lúc quên lúc nhớ.
Ông Cảnh tuy không phải là họ hàng ruột thịt nhưng cũng là người thân của gia đình, lại là người từng thâm yêu Nhạn hơn hai chục năm trời, nên tự nguyện lo cho nàng. Ông săn sóc nàng như chồng lo cho vợ. Lúc tỉnh táo, nàng gọi ông bằng bác, xưng cháu. Nhưng những lúc ấy rất hiếm. Nàng thường lẫn lộn ông với ông Thiện. Lại có nhiều khi nàng còn tưởng ông là người chồng luật sư đã chết trên biển cả. Nàng kêu ông bằng anh và xưng em. Có lúc nàng lại âu yếm ôm ghì lấy ông mà hôn tới tấp lên mặt, lên cổ. Lúc đầu ông cũng cảm thấy thích thú vì được ôm người con gái mà ông yêu thầm trộm nhớ mấy chục năm trời. Nhưng những lần sau, ông không còn cảm giác gì nữa vì người đàn bà mê sảng ấy đang yêu một người khác, không phải là ông. Rồi ông trở nên bực mình. Dần dần tình yêu ông dành cho Nhạn phai nhạt. Ông không còn thấy thích thú được ôm nàng trong vòng tay nữa. Ông đứng im lặng, trơ như đá, để mặc nàng âu yếm, vuốt ve, hôn hít và gọi tên người chồng đã khuất.
Thế rồi bỗng một hôm nàng đòi “chồng” vào giường ngủ với nàng. Ông Cảnh sững sờ trước đòi hỏi này. Ông thầm tự hỏi ông có nên chiều nàng không ? Nếu ông từ chối, bệnh của nàng có nàng hơn không ? Từ lâu ông vẫn mơ ước được ngủ với nàng, với một cô Nhạn xinh xắn, hấp dẫn, tỉnh táo, không phải một người bệnh đang trong cơn mê sảng. Ngủ với nàng lúc này có phạm tội lợi dụng một người bệnh hoạn không ? Thật là một điều khó nghĩ cho ông.
Ngoài nỗi lo lắng trên, ông còn sợ trong khi hai người đang ân ái nàng bỗng tỉnh lại, nhận ra ông không phải là người chồng luật sư của nàng thì phản ứng của nàng sẽ ra sao ? Bệnh nàng có nặng hơn vì tức giận tưởng ông lợi dụng nàng trong cơn mê không ? Ðây là một hoàn cảnh vô cùng tế nhị và khó khăn vì bệnh tâm thần không phải là một bệnh dễ chữa như các bệnh khác. Ông đành phải tìm cách trì hoãn, nói thác rằng ông đang bệnh,không thể ân ái với nàng ngay bây giờ được. Rồi ông đưa nàng vào giường dỗ cho nàng ngủ. Nhìn người đàn bà một thời ông yêu tha thiết nay đã héo mòn vì bệnh tật ông cũng không còn thấy ham muốn nữa, chỉ xót thương thôi. Sau đó, ông vội gọi cho bác sĩ đang điều trị cho nàng để trình bày sự việc và hỏi cách đối phó. Nhưng không may vào dịp đó, bà bác sĩ điều trị cho Nhạn nghỉ hàng năm nên đã đi vắng xa.
Bỗng, vào một đêm, ông đang ngủ trong phòng riêng, Nhạn vào nằm cạnh ông và đánh thức ông dậy. Ông tỉnh ngủ ngay vì thấy một thân thể trần truồng bên cạnh. Ông chồm dậy và định lao ra khỏi giường. Nhạn ôm ghì lấy ông và âu yếm gọi tên người chồng luật sư. Ông muốn gỡ nàng ra mà không được vì mỗi lúc vòng tay nàng xiết chặt hơn. Khi đi ngủ, ông chỉ mặc có một chiếc áo lá và một quần xà lỏn nên bị nàng lột ra một cách dễ dàng, nhanh chóng. Ông không ngờ lúc ấy nàng mạnh như vậy. Biết mình đã lớn tuổi, yếu hơn người đàn bà đang tuổi hồi xuân và bất bình thường nên không thể chống cự, trốn tránh được nữa, đành nằm yên…
Chuyện lầm lẫn còn xảy ra nhiều lần nữa. Chính ông cũng thấy thích thú. Ông nghiệm ra rằng sự lầm lẫn dường như cũng có ảnh hưởng tốt cho bệnh tâm thần của Nhạn. Nàng có vẻ tỉnh dần ra. Nhiều việc nàng đã có thể tự làm lấy mà không hư hỏng. Ông vừa mùng vừa lo. Mừng vì thấy bệnh đã đỡ nhưng lo vì có thể nàng sẽ trách ông đã lợi dụng lúc nàng không tỉnh táo để làm bậy. Làm sao ông có thể giải thích chính nàng đã lầm lẫn ? Ông ở vào tình trạng tình ngay mà lý gian. Ông phân vân không biết nên sử trí cách nào. Tránh nàng hay vẫn cứ để nàng tiếp tục lầm lẫn ? Quan trọng nhất vẫn là vấn đề sức khỏe của nàng.
Trong khi ông phân vân thì nàng vẫn tiếp tục lầm lẫn, nhưng thưa dần đi. Hình như lúc hơi tỉnh táo nàng không lầm lẫn nữa. Chính những đêm ấy, ông lại thao thức mong nhớ nàng. Ông biết mình tự mâu thuẫn, nhưng làm sao ông dễ dàng quên được thân thể của người đàn bà mà ông mơ ước suốt cả cuộc đời. Không những thế, ông còn sợ nàng khi đã khỏi hẳn bệnh tâm thần sẽ xa lánh hay xua đuổi ông.
Từ ngày Nhạn có thể tự làm lấy nhiều việc, ông bắt đầu đi chơi loanh quanh trong khu phố gần nhà cho bớt ngột ngạt. Thoạt tiên, cuộc đi chơi chỉ ngắn năm, bảy phút. Khi thấy không có chuyện gì xảy ra cho nàng, ông kéo dài thêm để hưởng không khí ngoài trời.
Một hôm, đi chơi về, ông giật mình khi thấy Nhạn lúi húi nấu nướng trong bếp. Từ ngày nàng bị bệnh, ông không bao giờ cho nàng vào bếp vì sợ nguy hiểm cho nàng. Ông vội đến gần nàng để kiểm soát bếp lửa. Nàng đang rửa rau, ngửng lên nhoẻn miệng cười với ông. Nụ cười thật tươi, không có vẻ ngờ nghệch như lúc nàng đang bị bệnh nặng. Ông yên tâm vì không có gì đáng ngại, vừa định ra khỏi nhà bếp thì nghe tiếng nàng hỏi :
“Anh mới đi dạo mát về ?”
Ông quay lại mỉm cười với nàng, đáp :
“Thỉnh thoảng đi ra ngoài cho thoải mái.”
Nhạn lại nói :
“Anh nghỉ ngơi một chút rồi ăn cơm…Bữa nay đặc biệt.”
Nghe lời nàng, ông rất mừng vì không có một chút mê loạn nào. Ông vui vẻ hỏi lại :
“Bữa nay thì có gì đặc biệt ?”
Nhạn úp mở “
“Lát nữa anh sẽ biết.”
Rõ ràng là cách nói của một người tỉnh táo, ông càng ngạc nhiên hơn, nhìn nàng đăm đăm. Nàng cúi xuống như muốn giấu một nụ cười. Ông rất mừng khi thấy nàng đã bớt nhiều, có thể coi như đã bình thường. Nhưng ông lại thắc mắc nếu đã bình thường sao nàng vẫn lầm ông với người chồng luật sư mà gọi ông bằng anh ? Ðáng lẽ nàng phải nhận ra ông là “bác Cảnh”, bạn của cha nàng. Thật khó hiểu. Thôi thì đành chờ đến bữa cơm xem sao, ông thầm tự nhủ.
                                                 X X
                                                   X
Ông Cảnh còn ngạc nhiên hơn khi thấy Nhạn mặc áo dài ngồi cạnh bàn ăn. Không những thế, ông còn nhận ra một lớp phấn son trên mặt nàng. Lớp phấn hồng đã làm cho mặt nàng  bớt xanh xao sau nhiều ngày bệnh hoạn. Nàng trông trẻ hẳn ra và thật xinh đẹp. Thấy nàng có vẻ trịnh trọng quá, ông chợt lo vì nghĩ rằng bệnh tâm thần của nàng trở lại. Ông đứng nhìn nàng thật lâu để dò xét. Nàng vui vẻ chỉ chiếc ghế đối diện, mời :
“Anh ngồi xuống đi.”
Ông rụt rè hỏi :
“Nhạn…Nhạn thấy trong người…thế nào ?”
Nàng phì cười hỏi lại :
“Anh tưởng em bịnh hả ?”
“Vậy…vậy sao Nhạn có vẻ…bất thường quá ?”
Nàng lắc đầu :
“Có gì bất thường đâu…Hôm nay đặc biệt thì em mặc áo dài và trang điểm một chút cho hợp…tình hợp cảnh.”
Ông vẫn đứng yên một chỗ, rồi hỏi tiếp :
“Hôm nay là ngày gì mà Nhạn coi là đặc biệt ?”
Nàng tươi cười đáp :
“Ngày em khỏi bịnh.”
“Khỏi bịnh ? Bịnh gì ?”
“Từ ngày ba má em bị tai nạn, em không được bình thường, bị mê loạn. Bây giờ thì em tỉnh táo rồi. Như vậy là khỏi bịnh chớ còn gì nữa.”
Ông Cảnh vẫn nghi ngờ, hỏi thêm :
“Nhạn có biết tôi là ai không ?”
Lần này thì nàng cười phá lên :
“Có lẽ anh bất thường mới đúng. Anh là Cảnh chớ còn là ai nữa.”
Câu trả lời của nàng làm ông giật thót mình. Nàng gọi ông bằng anh ngọt xớt. Thế thì nàng đâu có mê sảng. Nàng không nhìn lầm ông ra người chồng luật sư quá cố nữa. Thấy ông vẫn đứng, nàng lại giục :
“Anh ngồi xuống đi. Em có chuyện muốn nói.”
Ông không trái lời nàng nữa, nhưng vẫn đăm đăm nhìn nàng chờ đợi. Nàng nửa e thẹn nửa vui vẻ nói :
“Anh với em, từ lâu đã thành vợ chồng, bây giờ chỉ hợp thức hóa thôi. Mình đã ăn nằm với nhau bao nhiêu lần. Có thể lúc đầu em đã lầm anh là người khác. Nhưng dần dần em tỉnh lại và nhận ra anh. Mới đầu em cũng hơi ngạc nhiên và tức giận, tưởng anh lợi dụng lúc em bịnh mà làm bậy. Sau em để ý nhận xét thấy anh không tỏ ra tha thiết với em, chỉ chiều em thôi thì em biết anh muốn chữa bịnh cho em nên em muốn gì anh cũng làm. Ðiều quan trọng là chưa bao giờ anh tìm cách ngủ với em, chính em là kẻ chủ động. Ðã có lần em giả bộ lầm anh với chồng cũ của em, anh cũng không cưỡng lại…Bây giờ anh hiểu hết rồi, có chịu làm chồng thiệt của em không ?”
Càng nghe nàng nói ông càng ngỡ ngàng. Rồi từ ngỡ ngàng ông sung sướng vô cùng. Ông nhìn nàng đắm đuối mà không nói nên lời. Nàng chỉ mấy món ăn bày trên bàn, nói :
“Ðây là tiệc mừng chúng mình chính thức xum họp với nhau. Em mới khỏi bịnh, không làm được những món đạc biệt, chỉ đơn sơ thế này thôi. Anh đừng chê, nghen.”
Ông vẫn nhìn nàng, không nói nên lời vì chưa bao giờ ông dám ngờ mình có hạnh phúc này. Nhạn xới cơm rồi gắp thức ăn vào chén cho ông, mời :
“Nào, mình bắt đầu chớ, em cũng đói rồi.”
Ông ngoan ngoãn làm theo lời nàng. Ông cho rằng nếu ông có được dự một bữa tiệc đầy sơn hào hải vị cũng không thể ngon bằng bữa cơm đơn giản hôm nay. Khi thấy Nhạn vui vẻ cười nói, ông rụt rè hỏi :
“Nhạn…Nhạn có biết tôi yêu Nhạn từ lâu lắm rồi không ?”
Nàng gật đầu :
“Em cũng biết chớ. Ngay từ hồi mới mười lăm, mười sáu, em thỉnh thoảng bắt gặp mắt anh nhìn em đắm đuối thì cũng đoán ra ngay. Những lúc đó, em lại nhủ thầm là ông già này dê thiệt, dám yêu cả con gái bạn. Chắc chắn là em nghĩ em không thể lấy một ông già như anh…Em đâu có điên.”
Nói xong, nàng phá lên cười, rồi thêm :
“Bây giờ thì đúng là mới khỏi điên nên mới chịu làm vợ anh.”
Ông Cảnh chậm rãi nói :
“Nhạn không cần phải ép mình làm điều Nhạn không thích…”
Nàng hỏi lại ngay :
“Bộ anh không còn yêu em nữa ?”
“Lúc nào tôi chả yêu Nhạn, nhưng tôi không muốn Nhạn buồn vì có một người chồng già hơn cả tuổi ba mình. Có thể Nhạn sẽ mắc cỡ với bạn bè và nhựng người chung quanh. Thấy Nhạn khỏi bịnh là tôi mừng rồi.”
Ngập ngừng một chút, nàng đánh bạo hỏi :
“Những lần mình ăn nằm với nhau, anh không thích sao ?”
“Sao lại không thích ! Nhưng tôi vẫn cho đó là một cách chữa bịnh.”
Nàng dọa :
“Bây giờ em hết bịnh cũng chỉ là hết tạm thời thôi, vẫn cần có anh bên cạnh. Nếu anh bỏ em có khi bịnh trở lại thì sao ? Anh đã yêu em suốt cả đời anh, bây giờ em yêu lại, chả lẽ anh không nhận tình của em ? Mình ở Mỹ, có phải ở Việt Nam đâu mà sợ tai tiếng. Ðưa nào cười thì hở mười cái răng, mặc xác chúng nó. Mình chỉ biết mình thôi.”
Thấy lời nàng chí tình và hợp ly, ông Cảnh đành ngồi im lặng, trong bụng vui như mở cờ. Trong đời ông đã gặp nhiều chuyện bất ngờ, nhưng chưa có bất ngờ nào thú vị như bất ngờ này. Ông nhìn nàng đắm đuối, ấp úng nói :
“Thì…thì tôi vẫn yêu Nhạn…”
Nàng liền ngắt lời ông :
“Yêu mà vẫn kêu bằng Nhạn và xưng tôi ? Bộ em không xứng đáng để anh kêu bằng em sao ?”
“Tôi…tôi…Anh sung sướng quá đến nghẹn lời.”
Nhạn tỏ vẻ bằng lòng, gật đầu :
“Từ nay em cấm anh xưng tôi với em nữa đấy.”
Ông sốt sắng nhận lời :
“Từ nay chì anh với em thôi.”
Nhạn liền cất tiếng cười vang. Ông Cảnh bỗng có cảm giác rờn rợn. Ông biết ông chưa thể hưởng hạnh phúc trọn vẹn với nàng được dù ông đã có nàng.      

                                                                                                                   Tạ Quang Khôi
                                                                                                                  (11/2008)