Thursday, August 4, 2011

             MỐI TÌNH CHUNG THỦY
                                               Tạ Quang Khôi

D
uyệt tình cờ gặp lại Hoa trong một trung tâm thương mại Việt Nam. Chàng nhận ra nàng ngay dù nàng đổi khác rất nhiều. Ngót hai chục năm xa cách, kể từ ngày hai người chia tay, nên sự thay đổi cũng là chuyện thường. Chỉ có điều không thường laf nầng gầy yếu quá. Nàng đi với một người đàn ông và hai đứa nhỏ mà chàng đoán là chồng con, nên không dám làm quen. Người đàn ông hơi già, tóc đã hoa râm, có lẽ hơn Hoa nhiều tuổi. Thấy người yêu đã có chồng, chàng cũng nghe lòng tê tái, buồn rầu, nhưng không giận hờn vì dù sao hai người cũng mất liên lạc với nhau quá lâu.
Duyệt và Hoa gặp nhau trong một dịp cùng đi thủy lợi ở miền Ðồng Tháp. Cả hai đều là dân Saigon. Khi cộng sản chiếm miền Nam, Duyệt đang học năm cuối cùng ở đại học Văn khoa. Chàng là người ham hoạt động, lại có khuynh hướng thiên tả nên đã hăng hái gia nhập đòan thanh niên xung phong đẻ có dịp “giúp đời và giúp nước”. Trong khi đó Hoa là con gái một gia đình bị quy vào thành phần “tư sản bóc lột”. Ðáng lẽ gia đình nàng đã bị đuổi đi vùng kinh tế mới, nhưng cha mẹ nàng đã khéo léo dùng tiền để mua chuộc các cán bộ ở quận, phừong và khóm. Gia đình nàng đã phải dâng hiến cho nhà nước tòa biệt thự lớn đang ở, dọn về một căn nhà nhỏ chật chội trong một hẻm xa trung tâm thành phố. Ðó cũng là một cách ngụy trang để che mắt thế gian. Muốn tỏ ra mình đã thực sự “giác ngộ cách mạng”, anh chị em Hoa tích cực tham gia các hoạt động của phường, khóm.
Hoa xinh đẹp, duyên dáng, ăn nói nhỏ nhẹ nên ngay khi mới gặp Duyệt đã có cảm tình. Nhưng Hoa tỏ ra dè dặt khi tiếp xúc với chàng. Nàng đã nghe một vài người trong đoàn cho biết chàng là “ba mươi tháng tư”. Rồi khi công tác đã hoàn tất, trở về Saigon, chàng vẫn đến thăm nàng hàng ngày, khiến nàng rất khó chịu mà không dám phản đối. Một hôm nàng đánh liều hỏi :
“Có phải anh được lệnh đến dò xét nhà Hoa không ?”
Mới đầu Duyệt có vẻ ngạc nhiên  nhưng rồi chàng cười phá lên, hỏi :
“Thì ra Hoa vẫn tưởng tôi là ba mươi tháng tư thiệt sao ?”
Nàng không đáp, chỉ đăm đăm nhìn chàng.
“Vậy thì, đây là dịp tôi cho Hoa biết sự thiệt. Hồi mới đầu tôi cũng có thích cách
mạng vì chánh quyền cũ thối nát, tham nhũng quá, từ thằng trên cùng xuống tới thằng tép riu. Nhưng thích không có nghĩa là theo đuôi một cách mù quáng. Chỉ trong một thời gian ngắn, tôi nhận ra rằng chúng nó cũng chẳng hay ho gì, nếu không muốn nói là còn tệ hơn chế độ trước. Cái tệ nhứt của chúng là sự tàn bạo và giả dối, cái gì cũng nói láo hết. Nhưng đã đâm lao, phải theo lao, từ từ rút lui để chúng khỏi nghi ngờ. Ðối với bọn này, không thể thành thật được. Rất nguy hiểm.”
            Hoa liền hỏi lại :
            “Sao anh dám nói thiêjt với Hoa như vậy ? Không sợ Hoa đi báo cáo sao ?”
            Duyệt cười :
            “Hoa định báo cáo với ai ? Giới thiệu tôi làm việc với người đó cho vui.”
            Thấy chàng có vẻ thành thật, nàng bắt đầu nói đùa :
            “Ðể Hoa nghĩ coi nhé. Cả phường lẫn khóm Hoa chẳng quen ai. Còn cái anh công an khu vực thì Hoa lại rất ghét. Mỗi lần gạp Hoa ở bất cứ đâu, anh ta cũng nham nhở tán tỉnh. Hoa chả dám phản đối, chỉ im lặng mà bỏ đi chỗ khác.”
“Cũng như hồi Hoa mới gặp tôi ở vùng Ðồng Tháp, phải không ?”
Nàng gật đầu, cười :
“Ðúng vậy, sợ chết khiếp đi.”
“Bây giờ còn sợ không ?”
Nàng dí dỏm :
“Cách đây nửa giờ còn sợ chết khiếp, bây giờ chỉ…ngài ngại thôi.”
“Nghĩa là Hoa vẫn chưa tin tôi hẳn ?”
Nàng rụt rè :
“Tin chớ…Nhưng từ đang sợ…chết khiếp đến thật sự tin cũng phải từ từ, phải có thời gian…”
Duyệt công nhận lời nàng có lý. Tâm trạng con người không thể thay đổi một cách nhanh chóng được. Như vậy là nàng rất thành thật. Và chàng cũng thầm hiểu rằng muốn được nàng yêu lạ, chàng phải kiên nhẫn.
Từ buổi ấy, Hoa đã có vẻ cởi mở hơn với Duyệt, rồi hai người trở thành đôi bạn rất thân. Nhưng chỉ đến khi Duyệt cho Hoa biết ý định vượt biên của chàng thì chàng mới biết nàng cũng đã yêu. Nàng giữ im lặng một lúc lâu, rồi nghẹn ngào nói :
“Như vậy là anh muốn bỏ em lại một mình, phải không ?”
Lần đầu tiên nàng xưng em nên Duyệt nghe sao ngọt ngào, khiến chàng ngất ngây. Chàng ấp úng mãi mới đáp được :
“Ðâu có…đâu có…nhưng…nhưng tôi có biết ý Hoa thế nào đâu…”
Nàng nhìn chàng đăm đăm, rồi hỏi :
“Vậy bây giờ anh biết ý em rồi thì anh tính sao ?”
Chàng càng lúng túng hơn vì chưa bao giờ chàng dám nghĩ tới chuyện được cùng nàng dong chơi trong thành phố, chứ đừng nói tới chuyện cùng vượt biên. Cuối cùng chàng nói :
“Vượt biên là một chuyện vạn bất đắc dĩ vì chín phần chết, chỉ có một phần sống thôi. Cái phần sống đó hoàn toàn trông vô may rủi. Rất nguy hiểm. Chỉ những người đã tuyệt vọng mới dám liều mạng lao đầu ra biển…”
Chàng chưa nói hết, nàng đã ngắt lời hỏi :
“Ai làm anh tuyệt vọng ? Chắc chắn không phải là em.”
Chàng khẽ thở dài :
“Tôi đã chán cuộc sống vất vưởng ở đây, tương lai mù mịt, vì vậy, đành liều.”
“Anh đi rồi, anh có biết tương lai em cũng mù mịt không ?”
Câu hỏi thật bất ngờ làm Duyệt lặng hẳn người, không biết trả lời sao. Một lúc khá lâu, trước vẻ chờ đợi nôn nóng của Hoa, chàng ngập ngừng hỏi :
“Hoa…Hoa yêu tôi ?”
Nàng hơi giận :
“Ô hay, sao anh lại có thể hỏi một câu ngớ ngẩn như vậy được nhỉ…Anh có biết từ lâu em chờ đợi anh tỏ tình với em, nhưng chả bao giờ anh thèm nói một lời. Bây giờ anh sắp bỏ em để đi xa, em mới phải liều cho anh biết em yêu anh. Như vậy là trái với lẽ thường.”
Nói xong, đôi mắt nàng rươm rướm ướt khiến Duyệt rất cảm động. Chàng rụt rè nắm lấy tay nàng muốn nói một lời xin lỗi mà nghẹn ngào. Hai người giữ im lặng khá lâu, cuối cùng chàng lên tiếng :
“Hay tôi hủy bỏ chuyến đi…”
Chàng chưa dứt lời, nàng đã vội gạt đi :
“Không, anh cứ đi đi, vì tương lai của anh, rồi kiếm cách liên lạc với em…Ðừng quên em là được rồi.”
Chàng quả quyết :
“Chẳng bao giờ tôi có thể quên Hoa được.”
Thầm trong bụng, chàng hơi ngạc nhiên về thái độ tự mâu thuẫn của Hoa. Nàng vừa trách chàng bỏ nàng lại một mình, bấy giờ lại khuyên chàng nên ra đi. Thật khó hiểu vì chuyến đi này của chàng ngoài vấn đề nguy hiểm còn sự xa cách nữa. Nếu đi thoát, đến được bến bờ tự do, biết bao giờ sẽ gặp lại nhau ? Cuộc đời nhiều bất trắc, làm sao có thể biết trước được. Hay nàng không thật sự yêu chàng ?
Hai người chỉ gặp nhau thêm một lần nữa rồi Duyệt ra khơi  Chuyến đi không êm ả như mọi người mong muốn. Thuyền đi được hai ngày thì gặp bão, không bị chìm giữa biển nhưng dạt vào một hòn đảo hoang, không người ở. Máy thuyền bị hư nên không thể tiếp tục cuộc hành trình. Các thuyền nhân sống trên hoang đảo năm ngày, nhờ gạo trên thuyền còn đủ ăn cầm hơi, rồi được một tầu đánh cá Nhật cứu, đưa về Nhật. Nhưng tại đây, họ bị cô lập trong một trại lính cũ ở bãi biển, xa khu dân cư. Họ phải bầu một ban đại diện để tiếp xúc với chánh quyền địa phương. Ðiều khó khăn duy nhất là không ai biết tiếng Nhật, vì thế cuộc thảo luận không tiến hành được. Tuy nhiên, họ vẫn được tiếp tế lương thực và một số tiện nghi tối thiểu. Cuối cùng, chánh quyền địaa phương kiếm được một người biết tiếng Anh. Ðó là một sinh viên đang học ở Ðông Kinh về thăm gia đình. Một nhân viên sở Mỹ cũ và Duyệt được cử ra nói chuyện với anh sinh viên Nhật. Lúc đó mọi người mới biết chánh quyền địa phương đã thông báo với trung ương, nhưng chưa thấy trung ương trả lời. Các thuyền nhân yêu cầu được găp các phái đòan của các nước tự do đê xin đi định cư. Chánh quyền địa phương hứa sẽ hối thúc trung ương. Như vậy là có tiến triển tốt đẹp, nhưng mọi việc không hiểu sao quá chậm chạp. Mãi ba năm sau, Duyệt và một số người mới được đi Mỹ. Số còn lại, kẻ xin đi Pháp, người xin đi Úc hoặc Canada.
Vừa đặt chân lên nước Mỹ, Duyệt gửi thư về Việt Nam cho Hoa ngay. Nhưng rồi chàng chờ hoài không thấy hồi âm. Chàng gửi thêm hai thư nữa mà cũng biệt vô âm tín. Chàng không ngạc nhiên mà cũng không giận nàng vì chính chàng đã biệt tích quá lâu. Chàng chỉ thắc mắc về an ninh của nàng và gia đình nàng mà thôi. Chàng viết thư nhờ một người bạn ở Saigon đến nhà nàng xem tình hình ra sao. Mấy tháng sau, người bạn cho biết nhà đã đổi chủ. Từ đó chàng không còn tìm cách liên lạc với nàng nữa. Cuộc sống mới ở Mỹ có nhiều vấn đề cần giải quyết và đối phó nên chàng cũng tạm quên nàng.
Mười tám năm trôi qua, Duyệt tương đối thành công trên quê hương mới. Chàng đã học xong đại học và có một việc làm chắc chắn. Nhưng về phương diện tình cảm chàng không gặp được ai vừa ý khả dĩ có thể thay thế được Hoa. Chính chàng cũng không hiểu tại sao chàng lại khó khăn như vậy vì chàng và Hoa mới chỉ chớm yêu nhau đã phải xa cách, chưa có nhiều kỷ niệm chung. Hoa cũng không phải là người con gái toàn vẹn cả về sắc lẫn nết. Vậy mà chàng cứ lấy nàng làm tiêu chuẩn để chọn lựa. Chàng cho đó là vô lý. Khi đã có cuộc sống ổn định, chàng về Việt Nam để kiếm nàng, cũng không gạp, đúng như lời ngưòi bạn nói năm xưa. Trở về Mỹ, chàng lại kéo dài cuộc sống độc thân. Rồi thời gian lần lữa qua, chàng quen với nếp sống cô đơn, không nghĩ tới chuyện vợ con nữa mà cũng không mơ tưởng đến Hoa.
Bỗng hôm nay gặp lại Hoa, chàng rất mừng nhưng lại buồn ngay vì nàng đã có chồng con. Thấy nàng gầy yếu, xanh xao chàng cũng nghe xót xa trong lòng và thắc mắc có phải nàng đang có bịnh không ? Bịnh gì ? Nan y hay không đáng ngại ? Nhưng chàng lại thầm tự nhủ :” Ô hay, người ta đã có chồng mình còn quan tâm làm gì nữa ?” Nhìn nàng bước vào một tiệm ăn với chồng con, chàng lặng lẽ bỏ đi. Chàng định ra bãi đậu xe để về nhà, nhưng chợt nhớ cần mua một vài thứ trong chợ Việt Nam. Chàng vừa vào chợ thì nghe có tiếng gọi tên mình nho nhỏ ở ngay sau lưng. Chàng vội quay lại và vô cùng ngạc nhiên thấy người gọi chính là Hoa. Nàng nói nhanh và nhỏ :
“Em nhận ra anh ngay, nhưng không dám chào hỏi vì chồng em ghen lắm.”
Duyệt chưa kịp hỏi gì, nàng đã nói tiếp :
“Em muốn gặp anh lúc mười một giờ trưa mai ở đây. Có nhiều chuyện nói lắm. Nhớ mưòi một giờ mai, anh nhé.”
Nói xong, nàng vội vã ra khỏi chợ như chạy trốn. Chàng nhìn theo mà lòng bâng khuâng. Thật là một bất ngờ ! Chàng mua vội mấy món đồ cần thiết rồi ra về ngay.
Ðêm hôm đó chàng trằn trọc không ngủ được, chỉ thỉnh thoảng chợp mắt rồi choàng tỉnh dậy nhớ đến khuôn mặt xanh xao, tiều tụy của Hoa mà lòng đầy thương xót. Chàng mong cho chóng đến giờ hẹn với nàng để biết rõ về cuộc đời nàng sau khi hai người chia tay.
Hôm sau, Duyệt tới khu Việt Nam cả tiếng đồng hồ trước giờ hẹn. Nhưng Hoa chỉ có mặt đúng mười một giờ. Vừa gặp chàng, nàng đã đề nghị đi khỏi khu Việt Nam ngay, tốt nhất là về nhà chàng để nói chuyện cho tự do, nếu vợ chàng không có nhà. Chàng nói ngay :
“Tôi không có vợ, về nhà tôi là tiện nhất.”
Nàng nhìn chàng đăm đăm, rồi hỏi :
“Anh nói thiệt hay nói giỡn ?”
“Chưa bao giờ tôi nói giỡn với Hoa.”
Khi hai người đã ngồi trong xe hơi của Duyệt, Hoa hỏi :
“Tại sao anh không chịu lấy vợ ?”
Ngập ngừng một lát, chàng đáp :
“Tại tôi hay so sánh…”
Câu nói lửng lơ của chàng khiến nàng thêm thắc mắc :
“Vậy là làm sao ? Anh so sánh ai với ai ?”
Chàng gạt đi :
“Thôi, để về nhà mình nói chuyện rõ hơn…Nhà tôi cũng gần đây thôi.”
Nửa giờ sau, Duyệt đã biết rõ cuộc đời Hoa sau khi chàng đi tìm tự do. Em trai lớn nhất của Hoa bị phường, khóm ép phải đi nghĩa vụ quân sự, chết mất xác bên Cao Miên. Mẹ nàng buồn sinh bệnh rồi qua đời. Mất liền hai người thân nhất đời trong co một thời gian ngắn, cha nàng bị bệnh thần kinh, rồi một đêm ông uống thuốc độc tự tử. Nàng đau khổ quá nên chán đời, có ý định đi tu, nhưng có hai việc giữ nàng lại với đời : hai em nhỏ không người săn sóc và mối hy vọng gặp lại Duyệt, Trong khi ngược xuôi ngoài chợ trời, nàng gặp Mạnh, một sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, mới đi tù cải tạo về. Trong khi Mạnh còn ở tù, vợ Mạnh bỏ con cho mẹ chồng nuôi để lấy một cán bộ cộng sản. Mạnh tỏ tình với nàng, mới đầu nàng không chịu, nhưng khi biết Mạnh có thể được đi Mỹ, nàng mới bằng lòng dù tuổi tác chênh lệch quá nhiều. Khi được đi Mỹ, nàng phải gửi hai em cho một bà dì ruột. Sau này khi đã có thẻ xanh, nàng mới bảo lãnh hai em sang đoàn tụ. Bây giờ chúng nó cũng đã học xong đại học va ở riêng vì đều đã có gia đình. Về phần nàng, bây giờ nàng đang bị ung thư bao tử, đã phải cắt đi một phần lớn, nhưng mới bị tái phát. Nàng có thể chết trong một tương lai gần.
Nghe chuyện của Hoa xong, Duyệt thấy tê tái trong lòng. Chàng không ngờ đời nàng lại nhiều gian truân như vậy. Nàng không phải là người đẹp đến độ Tạo hóa phải ghen ghét, nàng chỉ xinh tươi, co duyên và hiền lành.
Duyệt vắn tắt kể lại chuyện vượt biên cho Hoa nghe, rồi kết luận vì duyên số hai người phải xa nhau ở kiếp này, đành xin hẹn kiếp sau. Thấy đã quá mười hai giờ trưa, chàng mời nàng đi ăn. Nhưng nàng từ chối :
“Anh Mạnh ghen lắm, em không dám đi ăn tiệm với anh đâu. Anh ấy ghen cũng là chuyện thường tình, vì đã một lần bị vợ bỏ, mà em bây giờ thì còn trẻ. Tốt nhứt là nhà có gì cho em ăn cũng được.”
Trước khi chia tay, Hoa lấy từ trong túi xách ra một gói nhỏ trao cho Duyệt :
“Ðây là chiếc áo gấm em may sau khi anh đi vượt biên. Lúc đó, em nghĩ rằng anh sẽ trở về với em, mình sẽ làm đám cưới, áo này sẽ là áo cô dâu. Em sống chẳng còn bao lâu nữa, anh giữ nó để làm kỷ niệm, thấy nó là thấy em.”
“Hồi làm đám cưới với Mạnh, Hoa không mặc áo này ?”
Nàng bỗng có giọng hờn trách :
“Bộ em không xứng đáng là người yêu của anh sao mà anh không thèm kêu em bằng em và xưng anh ? Cứ Hoa với tôi hoài làm em tủi quá.”
Duyệt vội nắm láy tay nàng, tha thiết nói :
“Em không thấy anh yêu em đến độ không thể lấy ai khác được sao ? Anh chỉ yêu có em thôi. Mỗi lần gặp người con gái nào, anh cũng so sánh với em và thấy người ta thua em xa.”
Hoa tỏ vẻ băng lòng, nhoẻn miệng cười :
“Ở cõi đời này thiếu gì người vừa đẹp vừa ngoan gấp ngàn lần em. Anh khó tánh quá đấy…Hồi em lấy anh Mạnh, em may áo khác. Áo này chỉ dành cho anh thôi.”
Duyệt mở gói ra xem ngay. Ðó là một áo dài bằng gấm màu hồng điểm nhiều hoa mai vàng. Nhưng áo hơi rộng so với Hoa bây giờ. Chàng cất ngay vào ngăn để quần áo trong phòng ngủ, rồi sửa soạn đưa người yêu trở lại trung tâm Việt Nam như nàng yêu cầu. Trước khi mở cửa, chàng bỗng ôm lấy nàng, hôn lên môi. Nàng không phản đối nhưng cũng không đáp ứng. Rồi sau đó, nàng buồn buồn nói :
“Em bây giờ có đáng gì nữa đâu. Trước khi anh đi vượt biên, em sẵn sàng đẻ anh hôn mà anh chẳng nói gì.”
Sau hôm đó, hai người không gặp nhau lần nào nữa dù Duyệt hàng ngày vẫn ghé trung tâm Việt Nam với hy vọng được thấy nàng, dù nàng đi bên người chồng gia nua hay ghen, dù không được nói chuyện với nàng.
Khỏang ba tháng sau, vào một đêm chàng bỗng thức giấc và có linh cảm như có người đang ở trong phòng ngủ với mình.  Chàng ngồi nhỏm dậy, mở đèn sáng nhìn quanh, nhưng không thấy ai. Chàng yên tâm nằm xuống, tắt đèn. Chàng giật mình, thấy trong tối một cái bóng ở cạnh tủ áo. Chàng hơi sợ, nhưng cố lấy can đảm nhìn kỹ thì nhận ra chiếc áo gấm hồng của Hoa. Nó lơ lửng, cách mặt đất khoảng một gang tay, như có người mặc, nhưng không thấy mặt và chân tay. Chàng không hiểu tại sao áo treo bên trong tủ mà bây giờ lại ở bên ngoài. Chàng lại bật đèn sáng, không thấy áo nữa. Suy nghĩ một lúc, chàng đóan rằng có thể Hoa đã chết nên về báo cho chàng biết. Chàng lẩm bẩm khấn :”Hoa ơi, chúc em sớm được siêu thoát.”. Khấn xong, chàng tắt đèn để ngủ tiếp. nhưng bóng chiếc áo gấm vẫn lơ lửng bên cửa tủ áo. Chàng không biết phải đối phó thế nào. Chàng rất thương Hoa, nhưng không thích cái áo gấm cứ lơ lửng như vậy mãi. Chàng đành bật đèn sáng để xua đuổi chiếc áo, rồi ra phòng khách ngủ trên ghế dài.
Hôm sau, khi trời đã sáng rõ, Duyệt vào phòng ngủ gói chiếc áo gấm lại rồi mang ra xe hơi. Chàng quyết định đốt nó như người ta “hỏa táng” rồi rải tro xuống một dòng sông. Chàng tiếc và buồn lắm, nhưng không có cách nào khác để được sống yên ổn.
Sau hai giờ lái xe, Duyệt ngừng lại bên một bờ sông lớn. Ðến một chổ thật vắng, chàng để bọc áo lên một bờ cỏ, rồi đổ xăng ướt đẫm. Khi lửa cháy ngùn ngụt, một đám khói đen bốc lên cao. Trong đám khói, chàng chợt thấy một bóng người hiện ra. Vì trời sáng, chàng thấy rõ vẻ mặt buồn thảm của Hoa. Chiếc áo gấm màu hồng chập chờn trong ầnh lửa khói. Nhưng chỉ thoáng trong mấy giây, bóng nàng tan biến ngay. Nước mắt chàng bỗng trào ra, làm nhòa cảnh vật chung quanh…

                                                                         Tạ Quang Khôi
                                                                                  21/9/09
     

        GIÂY PHÚT CUỐI
                                      Truyện ngắn   Tạ Quang Khôi

B
à Duyên đang thiêm thiếp trong cơn mê chợt nghe có tiếng gọi “Má” thì choàng tỉnh ngay, ngơ ngác nhìn quanh bằng đôi mắt yếu ớt, lờ đờ. Nhưng bà không thấy ai ngoài viên bác sĩ đứng cạnh giường. Bà nghĩ mình nghe lầm. Nhưng bà vừa nhắm mắt, lại có tiếng gọi “Má”. Lần này bà nhìn viên bác sĩ, lắp bắp muốn hỏi nhưng không ra hơi. Bà biết bà đã kiệt sức, không còn sống bao lâu nữa. Bà vẫn bình tĩnh đợi chờ giây phút cuối cùng. Viên bác sĩ cúi xuống, ghé sát tai bà, khẽ gọi :
            “Má !”
Bà cố mở to mắt nhìn ông ta với một vẻ rất ngạc nhiên. Ông hỏi :
            “Má không nhận ra con sao ?”
            Bà càng ngạc nhiên hơn vì với đôi mắt yếu ớt, lờ đờ của một người đang trong cơn bịnh thập tử nhất sinh, gương mặt ông không có nét quen thuộc nhưng cũng không hoàn toàn xa lạ. Thật khó hiểu ! Ông nói thêm :
            “Má cứ nghỉ ngơi cho tỉnh táo, rồi sẽ nhớ ra con…”
            Bà muốn biết ngay ông là ai, nhưng không đủ sức nói ra lời yêu cầu. Bà biết bà yếu lắm rồi vì sức sống trong bà đã kiệt. Bà sẵn sàng ra đi mà không luyến tiếc cuộc đới. Bây giờ bỗng dưng có người nhận bà là mẹ khiến bà náo nức trong lòng. Thế nào bà cũng phải biết rõ mối liên hệ này rồi mới yên tâm nhắm mắt. Không biết có phải sự náo nức đã khiến bà thấy tỉnh táo hơn không ? Bà cố mở lớn hai mắt để nhìn viên bác sĩ tìm một dấu vết quen thuộc. Vẫn nửa như lạ nửa như quen,
            Trước khi rời khỏi giường bệnh nhân, bác sĩ cẩn thận kiểm soát lại các dây trợ sinh. Bà Duyên vẫn đăm đăm nhìn ông, chờ đợi.
            Sau khi viên bác sĩ ra khỏi phòng, bà chợt tự hỏi :”Hay là…?” Trong cơn nửa mê nửa tỉnh, trí nhớ của bà bồng bềnh như một dòng sông trôi ngược về dĩ vãng…Bà bỗng thấy mình ở tuổi 18, hơn nửa thế kỷ trước…
            Năm ấy…
            Duyên vừa mười tám, xinh đẹp, duyên dáng, đang học lớp đệ Nhị một trường nữ trung học ở Saigon. Người yêu của nàng là một sinh viên luật. Huy không những đẹp trai, học giỏi mà còn hiền lành nữa. Chàng chỉ có một cái xấu, nếu người ta coi đó là xấu, nhà nghèo. Mẹ Huy góa sớm, ở vậy, cố gắng lo cho anh em Huy ăn học nên người. Huy còn người anh và hai em gái. Anh Huy phải bỏ học sớm để lăn vào đời giúp mẹ, nuôi em. Nhưng không được bao lâu anh phải nhập ngũ. Vào dịp đó Huy mới đậu tú tài toàn phần, vừa tiếp tục học vừa đi làm để giúp đỡ gia đình.
            Duyên tình cờ gạp Huy tại nhà một người bạn cùng lớp. Hôm đó Huy tới thăm anh của cô bạn. Không biết tình cờ hay có sự dàn xếp, Huy và Duyên gặp nhau nhiều lần nữa ở nhà người bạn ấy, rồi quen nhau, thân nhau, cuối cùng yêu nhau. Tình yêu mỗi ngày một khăng khít, mặn nồng, rồi hai người thề thốt quyết sống bên nhau trọn đời. Các cuộc hẹn hò mỗi lúc một nhiều hơn, kín đáo hơn và…ly kỳ hơn
            Rồi một hôm, Duyên bỗng có triệu chứng khác lạ trong người. Nàng hoảng hốt báo tin cho Huy rõ. Chàng bình tĩnh cho biết sẽ làm đám cưới với nàng ngay. Chàng không hứa xuông để trấn an người yêu mà ngay cuối tuần đưa mẹ tới gặp cha mẹ Duyên để xin cưới nàng. Cha mẹ Duyên bị bất ngờ nên tỏ vẻ rất ngạc nhiên. Hai gia đình chưa hề quen biết mà ông bà cũng chưa rõ Huy là ai, hạng người nào. Ông bà xin hẹn sẽ trả lời sau vì muốn hỏi ý kiến Duyên. Ngay sau khi khách về, ông bà gọi Duyên ra hỏi. Nàng cho biết nàng yêu Huy và sẵn sàng làm vợ chàng. Nàng cũng kể rõ tình cảnh gia đình Huy. Khi biết Huy là một sinh viên đại học, mẹ nàng bằng lòng gả nàng cho chàng ngay. Bà cho rằng chàng là người có chí, dù nghèo vẫn cố học cho nên người. Nhưng cha nàng một mực không chịu, chê nhà Huy nghèo, không “môn đăng hộ đối”. Không những thế, ông còn quyết liệt cấm Duyên liên lạc với người yêu. Mẹ nàng dù không đồng ý với chồng cũng không dám bênh con, cãi lại ông. Duyên đau khổ, tuyệt vọng, trốn trong phòng riêng đễ khóc. Nàng bỏ cả ăn uống, bỏ cả học hành.
Lâu không thấy mặt con, mẹ nàng lo lắng vào thăm. Thấy con sa sút nhanh chóng, bà hoảng sợ khuyên con gái cố bình tĩnh và kiên nhẫn chờ đợi bà thuyết phục cha cho phép. Nghe mẹ nói như vậy, Duyên cảm động khóc òa lên, nằm úp mặt vào gối khóc nức nở. Mẹ nàng ngồi xuống mép giường, âu yếm vuốt tóc con, tìm lời an ủi :
            “Má tin rồi ba cũng chịu vì thằng Huy cũng là người đàng hoàng, ngoan ngoãn. Nhưng cần có thời gian để má nói chuyện với ba.”
            Nàng vừa lo lắng vừa nghẹn ngào nói với mẹ :
            “Ðơi đến bao giờ ? Không biết con có thể…chờ đợi…lâu được không  ?”
            Bà ngạc nhiên, đăm đăm nhìn con gái, hỏi :
            “Tại sao không chờ lâu được ?  
            Duyên lại khóc mà không nói nên lời. Mẹ nàng nhìn nàng đăm đăm, rồi như chợt hiểu, lo lắng hỏi :
            “Có thiệt không ?”
            Nàng đỏ bừng mặt, khẽ gật đầu. Bà đứng phắt dậy, thốt kêu :
            “Thảo hèn !...”
            Rồi bà nhìn con gái chằm chặp, muốn nói một lời mà ngập ngừng không nói, rồi bỗng bước nhanh ra khỏi phòng.
            Thấy mẹ bất chợt bỏ đi như vậy, Duyên bắt đầu lo. Nàng đoán mẹ sẽ cho cha biết “tin giật gân” này. Phản ứng của cha chắc chắn sẽ bất lợi cho nàng. Ông là người cứng rắn và nghiêm khắc, trái hẳn với vợ. Bỗng nàng nghe có tiếng gầm của cha từ dưới nhà vọng lên, nhưng không rõ ông nói gì. Mấy phút sau, mẹ nàng lại bước vào phòng. Bà nói ngay :
            “Ba biểu mày phải phá đi, chớ nhứt định ổng không chịu gả…”
            Nghe mẹ nói vậy, nàng lại khóc nức lên, rồi nghẹn ngào :
            “Vậy thì…con chỉ có chết thôi…”
            Bà nghiêm giọng la :
            “Ðừng có nghĩ khùng, để tao tính.”
            Suy nghĩ một lát, bà dịu giọng, nói :
            “Tao cũng không muốn phá vì phá là giết một mạng người…Nhưng cái chuyện cưới xin của mày với thằng Huy coi như hết hy vọng rồi…Tao bây giờ chỉ muốn cứu đứa nhỏ thôi…Nó có tội tình gì đâu mà giết nó…Mày phải bình tĩnh lại, đừng có nghĩ bậy nghĩ bạ…tính quẩn tính quanh…vừa thiệt mình vừa chẳng giải quyết được chuyện gì hết.”
            Nói xong, bà ra khỏi phòng. Dù câu chuyện chưa biết giải quyết thế nào, Duyên cũng thấy tạm yên tâm vì mẹ là người hiểu biết và nhân từ. Mãi đến chiều tối bà mới quay trở lại với một cà men đựng đồ ăn. Thấy đồ ăn, nàng bỗng đói cồn cào. Nhưng bụng đói mà miệng vẫn đắng và khô nên nàng cũng chẳng ăn được, chỉ uống nhiều nước. Tuy nhiên nàng cũng thấy tỉnh táo, khỏe hơn đôi chút.
            Chờ cho nàng ăn uống xong xuôi, mẹ nàng mới nói :
            “Tao đã hỏi ý dì Ngọc, được dì đồng ý cho mày ra Vũng Tàu ở nhà nghỉ mát của dì…”
            Không chờ mẹ nói hết, Duyên ngắt lời, hỏi :
            “Con ra đó làm chi ?”
            “Còn làm chi nữa ! Bà đáp ngay. Tao gởi mày ra đó ở cho tới ngày mày sanh. Như vậy không ai biết chuyện mày có bầu. Ba mày cũng chịu như vây rồi. Bao giờ mày sanh xong mới về nhà. Ðứa nhỏ thì cho vô viện mồ côi.”
            Nghe mẹ tính toán như vậy, Duyên im lặng. Nàng vẫn biết bà là người tính toán giỏi. Công việc làm ăn, buôn bán của gia đình nàng thịnh vượng nhờ óc tính toán của bà. Như vậy là nàng phải tạm nghỉ học để lánh mặt một thời gian. Nàng thầm tự hỏi rồi không biết nàng còn có thể gạp Huy nữa không ?
            Chợt mẹ nàng thúc giục :
            “Bây giờ mày sửa soạn quần áo và đồ đạc đi, nhớ đem sách vở ra đó mà học, Sáng mai tao đích thân lái xe đưa mày xuống Vũng Tàu, thu xếp nơi ăn chốn ở cho mày xong tao mới về.”
            Nàng lo sợ hỏi :
            “Con phải ở đó một mình ?”
            “Chớ mấy mình nữa ?”
            “Con sợ…”
            “À, có một con người làm để hầu hạ mày.”
            Sáng sớm hôm sau, hai mẹ con lên đường sớm khi trời còn tối. Duyên không được gặp cha và các em trước khi đi. Khi đã qua Biên Hòa, mẹ nàng mới lên tiếng :
            “Vì mày là chị lớn, tao không muốn cho mấy đứa em mày biết chuyện mày có bầu. Tao sẽ nói là mày bịnh, phải đi nghỉ mát một thời gian, khi nào khỏe sẽ về đi học lại. Tao cũng giận mày lắm nhưng vẫn thương mày, dù sao mày cũng là con đầu lòng. Ba mày cứ trách thằng Huy là đồ Sở Khanh. Tao lại không nghĩ như vậy vì nếu là Sở Khanh nó đâu có đem mẹ tới xin cưới mày. Xét cho cùng, tao với ba mày cũng có lỗi một phần vì mải lo làm ăn quá, lơ là việc dạy dỗ, kiểm soát chúng mày.”
            Nghe mẹ nói một thôi dài, Duyên vừa thẹn vừa mừng. Nàng không ngờ mẹ là người biết điều như vậy. Bà học cũng không cao, mới hết tiểu học đã ở nhà giúp cha mẹ buôn bán, rồi lấy chồng, cũng là một nhà buôn. Nàng thầm tự hứa từ nay sẽ cố gắng ngoan ngoãn hơn.
            Nhà nghỉ mát của dì Ngọc thật rộng rãi, ở ngay bãi trước, trông ra bờ biển. Mới đầu, Duyên cũng cảm thấy buồn, coi như bị đi đầy. Nhưng sau đó nàng cũng khuây khỏa phần nào vì chị người làm là dân địa phương nên đã đưa nàng đi chơi loanh quanh, thăm các thắng cảnh của Vũng Tàu. Rồi dần dần nàng quen với cảnh cô đơn, bớt buồn, lấy sách vở ra ôn tập để khỏi quên và hy vọng cuối niên học có thể thi Tú Tài phần thứ nhất. Hàng tuần mẹ nàng vẫn xuống thăm nàng bằng xe đò. Sở dĩ bà không lái xe riêng vì sợ người quen bắt gặp rồi thắc mắc, tìm hiểu. Mỗi lần xuống thăm con gái bà đem nhiều tin tức Saigon và quà bánh cho nàng. Bà lúc nào cũng dịu dàng với nàng khiến nàng rất cảm động. Cũng vì cảm động và thương mẹ vất vả vì mình, nàng quyết định gạt bỏ ý định báo cho Huy biết nơi ở mới của mình để chàng có thể xuống thăm. Nàng cho rằng lén lút gặp lại người tình là phản lại lòng tin yêu của mẹ.
            Khi bụng nàng đã lớn, bà chỉ dẫn nàng cách ăn uống, giữ gìn vệ sinh. Chị người làm hình như đã biết trước không hề tỏ vẻ thắc mắc hay ngạc nhiên. Trước ngày nàng khai hoa nở nhụy, bà ở luôn với nàng cả tuần lễ. Vào một lúc, chị người làm đi chợ vắng, chỉ có hai mẹ con, bà ôn tồn cho nàng biết ý định của bà về đứa bé sơ sinh :
            “Má đã kiếm được người nhận nuôi đứa nhỏ. Họ sẵn sàng làm khai sanh cho nó. Sanh xong, con nghỉ ngơi ít lâu thì về nhà đi học lại.”
            Duyên bỗng nghe nhói đau trong tim, hốt hoảng hỏi :
            “Tại sao lại cho đứa nhỏ đi ?”
            Mẹ nàng liền nghiêm giọng đáp:
            “Vì danh dự gia đình, con đã phải trốn ra đây, mang con về Saigon thì có khác gì tự tố cáo mình chửa hoang. Ba mày không bao giờ chịu có đứa nhỏ trong nhà. Vì ổng đòi phá thai, tao mới phải dấu mày đi.”
            Duyên bật khóc, nhưng không dám cãi lời mẹ. Dù sao nàng cũng phải công nhận bà là người tốt. Nhưng sau khi nàng sinh con, ý nghĩ tốt về mẹ biến mất. Không những thế nàng còn oán mẹ đã tàn nhẫn chia rẽ mẹ con nàng.
            Duyên vào một nhà bảo sanh tư và đã sinh con một cách dễ dàng và nhanh chóng. Ðó là một đứa con trai. Nhưng vì đau nên nàng ngủ thiếp đi sau khi đứa nhỏ ra đời. Lúc tỉnh dậy, nàng nhìn quanh, không thấy con đâu, chỉ thấy mẹ ngồi cạnh. Nàng mệt mỏi hỏi tới con thì bà cho biết đã cho đứa nhỏ đi rồi. Nàng bỗng nghe choáng váng, đau nhói trong lòng. Lặng đi một lúc nàng mới ấp úng hỏi :
            “Sao má vội quá vậy ? Con cũng muốn biết nó như thế nào…Dù sao nó cũng là con của con…”
            Rồi nàng nghẹn ngào không nói tiếp được nữa. Mẹ nàng có giọng bực tức :
            “Tao đã nói trước với mày là phải cho đi ngay để giữ danh dự gia đình… Người ta đã mang nó đi rồi.”
            Nàng sụt sùi :
            “Ít nhứt con cũng phải biết con của con lạc vô nhà ai…Người ta có thương nó không ? Dù sao nó cũng là giọt máu của con.”
            Bà đứng phắt dậy, nói lớn :
            “Chuyện đã rồi, tao không muốn lôi thôi nữa.”
            Rồi bà bỏ ra khỏi phòng. Từ lúc đó nàng mang lòng oán giận mẹ.
Ba hôm sau, dù hãy còn yếu, nàng đã trốn khỏi nhà bảo sanh để về Saigon, tìm tới nhà Huy.  Nàng khóc lóc kể cho Huy và mẹ chàng biết chuyện nàng bị đầy ra Vũng Tàu và đứa con bị bắt cóc ngay khi mới ra đời. Mẹ Huy vội hỏi ngay :
            “Trai hay gái ?”
            “Dạ, trai.”
            Bà cụ súyt soa vừa tiếc vừa giận. Cuối cùng nàng cho biết nàng đã bỏ nhà ra đi với hai bàn tay trắng, bỏ lại Vũng Tàu tất cả mọi thứ, kể cả quần áo thay đổi hàng ngày và bây giờ xin ở luôn với Huy. Chàng mừng rỡ, bằng lòng ngay trong khi mẹ chàng có vẻ ngại ngùng vì sợ rắc rối với pháp luật. Nhưng Huy trấn an mẹ, nêu lên vụ bắt cóc con nít khi vừa lọt lòng mẹ. Chàng tin rằng gia đình Duyên không dám thưa kiện.
            Tuy vậy, mọi người cũng đều nghe ngóng, chờ đợi phản ứng của gia đình nàng. Một tuần trôi qua trong bình yên. Muốn hiểu rõ tình hình gia đình sau ngày nàng trốn đi, Duyên tìm gặp người em gái kế mình ở trường học. Cô em tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy chị vì cô vẫn tưởng Duyên còn đang dưỡng bệnh ở Vũng Tàu. Duyên hiểu ngay rằng cha mẹ nàng vẫn giấu mọi người chuyện của nàng. Nàng cảm thấy vừa  buồn vì cha mẹ không còn nghĩ tới nàng nữa vừa mừng vì từ nay yên tâm ở với Huy.
            Huy và Duyên ra Vũng Tàu nhiều lần để cố tìm đứa con bị mẹ nàng bắt cóc mà không có một dấu vết nào. Chị giúp việc đã giúp đỡ tận tình mà cũng không có kết quả. Ðều đáng ngạc nhiên nhứt là sổ sách của nhà bảo sanh cũng không ghi lại những ngày nàng nằm trong đó. Tại sao lại kỳ lạ như vậy ? Phải chăng mẹ nàng đã dùng tiền đẻ mua chuộc người chủ nhà bảo sanh ?  Huy và Duyên đã gặp bà ta, nhưng cũng không biết thêm tin tức gì về đứa nhỏ..
            Khi đã hoàn toàn thất vọng về việc kiếm con, Duyên đành dốc lòng lo chuyện tương lai. Nàng học một lớp đánh máy, rồi xin làm thư ký cho một sở tư. Nàng cố gắng giúp đỡ và khuyến khích Huy học cho xong. Gần năm năm sau, khi Huy trở thành một luật sư thực thụ, hai người mới chính thức kết hôn. Trước đó, họ đã có thêm hai con, một gái, một trai. Khi Huy mở văn phòng riêng, Duyên bỏ sở tư để phụ giúp chồng. Với kinh nghiệm nhiều năm ở sở tư, nàng đã tổ chức và quản lý phòng luật sư một cách hữu hiệu. Huy trở thành một luật sư uy tín và có đông thân chủ.
            Khi vợ chồng đã khá giả, có chút tiếng tăm, Duyên tìm cách liên lạc lại với cha mẹ để dò hỏi tông tích đứa con đầu lòng của hai người. Nhưng cha mẹ nàng nhất quyết không chịu gặp vợ chồng nàng. Không những thế, ông bà còn không nhận nàng là con nữa. Nỗi buồn canh cánh trong lòng, nhiều hôm nàng đã khóc thầm. Nàng không ngờ cha mẹ lại đoạn tình với nàng một cách quyết liệt như vậy. Thật ra nàng cũng chưa làm gì để mọi người chê trách cha mẹ. Khi nàng lỡ có thai với Huy, mẹ chàng đã chính thức hỏi nàng cho Huy.
            Năm tháng lần lữa trôi, mà nỗi buồn trong lòng Duyên không hề phai nhạt. Buồn nhớ con thì ít mà buồn bị gia đình ruồng rẫy thì nhiều. Công việc bận rộn hàng ngày chỉ có thể làm nàng khuây khỏa chốc lát. Huy hiểu nỗi lòng vợ, nhưng cũng không biết làm sao để an ủi.
            Khi những biến cố chính trị dồn dập xảy tới, gia đình Huy được một người bạn Mỹ đưa ra phi trường Tân Sơn Nhứt để rời khỏi Việt Nam. Duyên muốn đưa cha mẹ và các em đi cùng mà không được.
            Nhờ thông minh và cần cù, hai vợ chồng Duyên có một cuộc sống tương đối thoải mái nơi xứ lạ quê người. Cả hai con đều tốt nghiệp đại học và có việc làm tốt. Mẹ Huy qua đời sau mười năm ở Mỹ. Rồi đên lượt Huy ra đi sau một cơn tai biến mạch máu não.
Bây giờ Duyên đang ở giai đoạn cuối của bệnh ung thư gan. Bà đắm chìm trong cơn mê triền miên. Các con và cháu nội, cháu ngoại đã tề tựu đông đủ. Trong lúc mê man chờ chết bà không còn nhớ tới đứa con bị mất tích nữa. Bỗng viên bác sĩ kêu bà bằng má khiến bà choàng sống lại cả một dĩ vãng xa xưa. Nhưng đầu óc bà bây giờ chỉ chập chờn với những hình bóng cũ, không còn đủ sức gây niềm xúc cảm nào.
Hôm sau, viên bác sĩ lại vào thăm. Ông thấy bà vẫn thiêm thiếp, nên đành ra phòng đợi đê gặp vợ chồng hai người con của bà. Ông bắt tay từng người rồi nói :
“Tôi có chuyện muốn nói với mấy người…”
Một người đàn bà trong đấm con bà Duyên hỏi ngay :
“Má tôi sắp đi rồi, phải không, thưa bác sĩ ?”
Ngập ngừng một chút, bác sĩ đáp :
“Khoan nói tới chuyện đó…Tôi muốn nói một chuyện khác…”
Bốn người tỏ vẻ ngạc nhiên, im lặng, chờ đợi. Bác sĩ hỏi :
“Mấy người có bao giờ nghe…bà cụ…nhắc tới một người con mất tích không ?”
Người đàn bà lên tiếng lúc trước đáp ngay :
“Có. Khi chúng tôi đã lớn, mới học xong đại học, má tôi có kể cho nghe chuyện đó. Má tôi không nói là mất tích mà kêu là bị bắt cóc. Anh tôi bị bà ngoại bắt cóc khi vừa lọt lòng mẹ. Suốt đời má tôi kiếm anh tôi mà không thấy. Vì chuyện này, ông bà ngoại tôi cắt đứt liên lạc với má tôi. Bây giờ cũng không biết ông bà ở đâu. Ba má tôi, rồi chị em tôi gửi thơ về Saigon kiếm ông bà ngoại tôi mà không được. Có thể nói đó là điều đau buồn lớn nhứt, nếu không nói là duy nhứt, của má tôi.”
Viên bác sĩ hơi cúi đầu xuống, tỏ vẻ cảm động, rồi nói bằng một giọng bùi ngùi :
“Người con mất tích hay bị bắt cóc…là tôi đây…”
Cả bốn người đối diện đều giật mình ngạc nhiên, chằm chặp nhìn viên bác sĩ. Một người đàn ông ấp úng hỏi :
“Bác sĩ…anh…anh…”
Viên bác sĩ ngắt lời :
“Từ giờ phút này, các cô chú kêu tôi bằng anh cho thân mật và đúng…tình anh em. Chính tôi cũng đã từng viết nhiều thơ về Saigon để hỏi ông bà ngoại có biết ba má hiện ở đâu không mà không có ai trả lời….Các cô chú hãy ngồi xuống, tôi kể vắn tắt chuyện bà má nuôi của tôi.”
Chờ mọi người đã yên vị, viên bác sĩ bắt đầu nói :
“Tên tôi là Hoàng. Tên này do ba má nuôi tôi đặt, vì biết tên ba là Huy. Ba má nuôi tôi là bạn của ông bà ngoại, tuổi tác ngang nhau. Ông bà không có con nên khai sanh cho tôi là con ruột. Vì đã lớn tuổi, mà tôi là con duy nhứt nên hai cụ chiều tôi lắm. Ðược cái hên là tôi giống ba Huy nên có chút thông minh, học hành không tệ. Khi sang Mỹ, hai Cụ ngỏ ý muốn tôi học bác sĩ, tôi nghe lời ngay. Tôi chưa học xong thì Cụ ông qua đời. Khi tôi đậu bác sĩ, Cụ bà vui lắm. Cách đây hai năm, Cụ bịnh nặng, cũng đã hơn chín chục. Khi biết mình sắp ra đi, Cụ cho tôi biết nguồn gốc thiệt của tôi. Nào là tên ông bà ngoại, nào là tên ba Huy má Duyên, vân vân… Mới đầu tôi tưởng Cụ mê sảng, nhưng sau khi hỏi Cụ một vài chi tiết về quá khứ để thử nghiệm, thấy Cụ vẫn sáng suốt, tôi mới tin lời. Sau khi an táng Cụ, tôi bắt đầu mở cuộc tìm kiếm. Tôi gởi nhiều thơ về Việt Nam, không ai trả lời, chác ông bà ngoại cũng mất rồi. Không biết các cậu các dì ở đâu. Tôi cũng kiếm ba má, nhưng hoàn toàn mơ hồ, vì ba má nuôi tôi có bao giờ liên lạc với ba má Huy đâu. Khi má vô đây, tôi không phải là bác sĩ điều trị nên không biết. Cách đây hai bữa, bà bác sĩ lo cho má nghỉ thường niên, hồ sơ bệnh lý mới chuyển cho tôi…Rốt cuộc tôi cũng kiếm ra má. Chỉ tiếc má không còn sống bao lâu nữa. Má sống thoi thóp thế này là nhờ các ống trợ sanh, rút ra là đi ngay…”
Một người đàn bà trong nhóm hỏi :
“Thưa bác sĩ, bao giờ thì rút ra ?”
Hoàng nói ngay :
“Kêu tôi bằng anh đi. Có phải tên cô là Hạnh Dung không ? Cô rất giống má.”
Hạnh Dung ngạc nhiên :
“Sao anh biết tên…em ?”
“Về các cô các chú, tôi đã tìm hiểu và biết rõ hết. Còn ống trợ sanh, phải chờ thân nhân ruột thịt của má quyết định. Má không làm di chúc hay living will nên bệnh viện không dám tự ý làm gì hết.”
Hạnh Dung hỏi :
“Vậy, riêng anh, anh nghĩ sao ?”
Ngập ngừng vài giây, Hoàng đáp :
“Như tôi đã nói với các cô các chú, tình trạng của má tuyệt vọng rồi. Kéo dài thêm cũng vậy thôi, lại càng thấy thương tâm mỗi lần ngó má…Ðành để má ra đi cho nhẹ nhàng…Khi bỏ ống trợ sanh, má có thể tỉnh táo một thời gian ngắn. Giây phút tỉnh táo cuối cùng ấy, má sẽ biết tôi đã được gặp má. Như vậy má càng an tâm ra đi.”
Hạnh Dung đứng lên, nói :
“Tất cả mọi người đã quyết định để má ra đi nhẹ nhàng, vậy trước khi vô gặp má lần cuối, em xin giới thiệu nhà em và các em để anh rõ, dù anh đã biết sơ qua.”
Hoàng mỉm cười :
“Cô thiệt chu đáo.”
“Ðây, chồng em, anh ấy tên Xương, cậu Hùng và mợ Kim Phượng.”
Hoàng bắt tay từng người. Sau đó, tất cả cùng vào phòng bà Duyên…

                                                                                  Tạ Quang Khôi
                                                                                 (Feb. 26, 2010)

Friday, May 20, 2011

BÓNG MA

http://www.box.net/shared/t1leha4x7s

CHỌN CHỮ

        
T
rong khi làm thơ, vấn đề chọn chữ cho đúng, cho hợp với hoàn cảnh rất quan trọng. Vấn đề này có thể bắt đầu từ khi con người biết làm thơ, nhưng mãi đến đời Ðường mới được ghi chép lại thành một câu chuyện.
            Giả đảo đời Trung Ðường có thói quen chọn lựa chữ rất cẩn thận cho bài thơ đang làm.
                                                                                                    
            Chuyện kể rằng có lần ông vừa đi giữa Trường An vừa ngâm nga tìm vế đối cho câu “Lạc diệp mãn Trường An” (Lá rụng đầy Trường An) rồi vừa nghĩ ra câu “Thu phong xuy Vị Thủy” (Gió thu thổi sông Vị) thì đụng phải quan Kinh Triệu Doãn Lưu Thế Sở. Quan Kinh Triệu hống hách cho là phạm thượng nên sai lính trói ông mất một buổi chiều. Một hôm khác, ông vừa cưỡi lừa đi ngoài đường vừa làm thơ, được hai câu “Ðiểu túc trì biên thụ, Tăng xao nguyệt hạ môn” (Chim ngủ cây bên bờ ao, Sư gõ cửa dưới trăng). Nhưng ông phân vân không biết nên dùng chữ “thôi” (đẩy) hay chữ “xao” (gõ), nên vừa đi vừa dùng điệu bộ đẩy và gõ. Ðúng lúc đó lại gặp một xe của quan Kinh Triệu Doãn khác, lần này là Hàn Dũ. Quan Hàn dừng xe lại, hỏi chuyện, rồi đề nghị không nên dùng chữ “xao”. Không những thế, quan Hàn còn mời Giả Ðảo lền xe để cùng thảo luận văn thơ. Từ đó, người ta dùng thành ngữ “Thôi Xao” để nói về sự chọn lựa chữ trong thơ.
            Vẫn về Giả Ðảo, người ta biết rằng cứ đến cuối năm, vào đêm trừ tịch, ông lại đem tất cả những bài thơ đã làm trong năm bầy lên bàn thờ, đốt hương vái lạy, rót rượu đổ xuống đất khấn rằng :”Ðây là nỗi khổ tâm của ta trong suốt năm nay.” (Trích trong Thơ Ðường của Trần Trọng San,)  
            Khi làm thơ hay viết văn, nhất là làm thơ, việc chọn chữ rất quan trọng. Ai cũng biết rằng muốn câu thơ hay câu văn gây ấn tượng mạnh cho người đọc, chữ dùng phải chính xác, có khi phải độc đáo nữa. Trong văn chương kim cổ, bể học mênh mông, những trường họp chọn chữ thì nhiều không thể kể hết được, chúng tôi chỉ xin nêu một vài trường hợp.
            Trước hết, xin nói tới Bà Huyện Thanh Quan. Trong “Thăng Long Hòai Cổ”, bà viết hai câu luận :
                                                 Ðá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
                                                      Nước còn cau mặt với tang thương.
            Bốn chữ “nước còn cau mặt” thật hay vì nước có mặt nước và có sóng gợn lăn tăn. Nhưng “đá vẫn trơ gan” e không được hay mấy, dù đối rất chỉnh. Người ta không biết đá có gan không vì chưa nghe ai nói “gan như đá”, chỉ “trơ như đá, vững như đồng”. 
            Với nữ sĩ Hồ Xuân Hương thì cách chọn chữ của bà thật tài tình, hầu như bài thơ nào cũng có những chữ được chọn khéo léo. Chúng tôi chỉ xin nêu thí dụ một bài, đó là bài “Chửa hoang” :
                                                      Cả nể cho nên hóa dở dang,
                                                      Nỗi niềm có thấu hỡi chăng chàng ?
                                                      Duyên thiên chửa thấy nhô đầu dọc,
                                                      Phận liễu sao đà nẩy nét ngang ?
            Ai cũng biết rằng chữ Thiên nêu thêm môt nét phía trên sẽ biến thành chữ Phu  (chồng) và chữ Liễu nếu thêm nét ngang thành chữ Tử (con). Lối chơi chữ của nữ sĩ họ Hồ thật tài tình, cổ kim chưa từng thấy..
            Nguyễn Khuyến với bài “Than Già” cũng là người biết chọn chữ khéo léo :
                                                 Ðời người thấm thoắt tựa chim bay,
                                                      Ông ngẫm mình ông nghĩ cũng hay.
                                                      Mái tóc chòm đen, chòm lốm đốm,
                                                      Hàm răng chiếc rụng chiếc lung lay.
                                                      Nhập nhèm bốn mắt tranh mờ tỏ,
                                                      Khấp khểnh ba chân dở tỉnh say.
                                                      Ông ngẫm mình ông thêm ngán nỗi,
                                                      Ði đâu cũng giở cối cùng chầy.
            Ba chữ “cối cùng chầy” thật đắc cách vì có thể hiểu theo hai nghĩa. Nghĩa đen là cối và chầy để giã trầu, nghĩa bóng là “cãi chầy cãi cối”. Một ông Nghè, đỗ đến Tam Nguyên, làm đến chức Tổng Ðốc Sơn Hưng Tuyên, dù có cãi chầy cãi cối, mọi người vẫn phải kính nể.
            Trường hợp thứ tư là thi sĩ Tản Ðà. Trong bài “Muốn Làm Thằng Cuội” ông đã viết :
                                                  Ðêm thu buồn lắm, chị Hằng ơi,
                                                       Trần thế em nay chán nửa rồi.
                                                       Cung quế đã ai ngồi đó chửa ?
                                                       Cành đa xin chị nhắc lên chơi.
                                                       Có bầu có bạn can chi tủi,
                                                       Cùng gió cùng mây, thế mới vui.
                                                       Rồi cứ năm năm rằm tháng tám,
                                                       Tựa nhau trông xuống thế gian cưòi.
            Chữ “chán” thật hay vì đã tả đúng ý nghĩ chán đời của thi sĩ. Cuộc đời của Tản Ðà là một chuỗi những thất bại, cả về khoa cử lẫn tình yêu. Nhưng nhờ những thất bại ấy nền văn học Việt Nam tiền bán thế kỷ hai mươi mới có một thi sĩ xuất sắc như vậy. Các nhà văn học sử Việt Nam đã xếp ông vào loại nhà thơ gạch nối giữa cũ và mới.
            Chúng tôi xin kể thêm một trường hợp nữa cũng về thi sĩ Tản Ðà. Khi ông cho đăng bài từ Tống biệt :
                                                            Lá đào rơi rắc lối thiên thai,
                                                           Suối tiễn oanh đưa luống ngậm ngùi
                                                           Nửa năm tiên cảnh,
                                                           Một phút trần ai,
                                                           Ước cũ duyên thừa có thế thôi.
                                                           Ðá mòn rêu nhạt,
                                                           Nước chảy hoa trôi
                                                           Cái hạc bay lên vút tận trời !
                                                           Trời đất từ đây xa cách mãi.
                                                            Cửa động
                                                            Ðầu non
                                                            Ðường lối cũ,
                                                            Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng soi.
            Theo một giai thoại văn chương, sau khi bài từ được đăng báo, có một độc giả viết thư về tòa báo đề nghị đổi chữa “SOI” bằng chữ “CHƠI”, vì “soi” có tính cách động, không hợp với cái Tĩnh của nơi tiên cảnh. Tất nhiên thi sĩ đồng ý ngay vì lời đề nghị hợp lý và có tính cách xây dựng. Thế là chữ cuối cùng của bài từ là “chơi”
Như vậy, vấn đề chọn chữ trong văn chương rất quan trọng. chữ phải đúng mới diễn tả được ý của tác giả hoặc tình trạng muốn mô tả. Thú văn chương không phải bất cứ ai cũng có thể hưởng được. Ðó là cái thú tao nhã và cao cấp của trí tuệ loài người.
                                                                                                       
  Tạ Quang Khôi ( 5, 2011)