
Monday, August 12, 2013
Thursday, July 4, 2013
MỘT VỤ ÁN MẠNG
TẠ QUANG KHÔI
T
|
hủ phạm là một ông già tóc bạc phơ. Lão ngồi bất động bên
cạnh luật sư được chỉ định biện hộ cho lão. Đôi mắt lão nhìn thẳng phía trước,
mặt lão bình thản đến trơ trơ như không có một chút tình cảm nào. Nếu ai nhìn
lão lâu để nhận xét sẽ có cảm tưởng lão đã biến thành gỗ đá. Lão không chú ý
đến bất cứ một ai, một vật , một cảnh nào chung quanh lão. Những tiếng động
dường như cũng không lọt vào tai lão. Công tố viên đang hùng hồn kết tội lão,
nhưng lão cũng chẳng thèm để tai nghe ông ta nói gì. Nếu chỉ nhìn vẻ trơ trơ
của lão, không ai có thể đoán nổi lão đang nghĩ gì. Lão là một pho tượng mà một
viên cảnh sát vừa đem tới đặt ngồi ở đó.
Câu trả lời duy nhất lão nói với
luật sư khi ông này hỏi lão bất cứ về vấn đề nào :"Tôi đã giết con
tôi." Vì luật sư là người Mỹ, lão trả lời bằng tiếng Mỹ đúng giọng. Đôi
lúc lão thêm một tiếng "Vâng" trước câu trả lời đó :"Vâng, tôi
đã giết con tôi." Cũng may, luật sư
là người kiên nhẫn nên không tỏ ra bất mãn trước câu trả lời duy nhất
được nhắc đi nhắc lại. Thỉnh thoảng, ông cũng hơi cau mặt, nhưng bình tĩnh lại
ngay.
Thật ra, bên trong cái vẻ gỗ đá đó, tình cảm lão cũng rạt
rào, bồi hồi khi lão nghĩ lại những chuyện đã xẩy ra trong đời lão. Khoảng hơn
mười năm về trước, khi quyết định về hưu, lão nhận định thầm trong bụng, vì lão
không phải là người thích khoe khoang thành tích, rằng lão đã thành công trong
đời, một thành công không lớn lắm nhưng đủ để mãn nguyện cho một người ở mức
trung bình như lão. Dưới thời Pháp còn cai trị Việt Nam , cha lão chỉ là một tiểu công
chức, lương vừa đủ nuôi một gia đình có sáu con trai và hai con gái. Là con trưởng nên vừa học hết trung học lão
đã phải đi làm để giúp đỡ gia đình. Lão theo nghề cha, làm công chức cho nhà
nước, nhưng là loại công chức cao vì thời đó những người có bằng Tú Tài như lão
không bao nhiêu. Rồi lão cũng có gia đình riêng. Theo thời gian,"sống lâu
lên lão làng", khi lão sắp đến tuổi về hưu thì được giữ một chức giám đốc.
Đúng vào dịp đó, miền Nam
thua trận. Người con lớn của lão làm cho một cơ quan truyền thông của Mỹ đã
được phép đưa cả gia đình di tản bằng máy bay. Sang Mỹ, tuổi của lão chưa phải
là tuổi về hưu, nên lão phải học Anh văn để kiếm việc làm. Nhờ thông minh và có
vốn Pháp văn, lão học rất nhanh và chỉ nửa năm sau lão đã có việc làm đủ để
sống tự lập. Rồi, hơn mười năm làm việc, lão về hưu lúc đã ngót bảy mươi tuổi.
Sau khi lão về hưu, cái may mắn bắt đầu bỏ lão. Bà vợ lão đột ngột ra đi sau
một cơn bạo bệnh. Cái chết của bà vợ đã sống với lão hơn bốn chục năm trời làm
lão buồn mãi, chẳng bao giờ nguôi được. Hình bóng bà vợ yêu của lão thấp thoáng
đâu đó trong căn nhà nhỏ. Lão phải bán nó đi để dọn về ở một khu chúng cư . Lão
trân trọng thiết lập bàn thờ tổ tiên, cha mẹ và vợ trong phòng ngủ duy nhất,
lão ngủ ngoài phòng khách. Lão tưởng như vậy cũng tạm yên vì lão nghĩ rằng sự
ra đi của bà vợ đã là một tai họa lớn nhất
trong cái tuổi về già này. Nhưng đôi khi, lão cũng nơm nớp lo sợ khi nhớ
tới câu nói của người xưa :"Họa vô đơn chí." Rồi lão tự trấn an
:"Ồ, mình già rồi, cùng lắm là chết mà thôi." Mà cái họa lại đến
thật, nhưng nó không đến với lão. Nó đã đổ ập lên đầu người con trưởng của lão.
Con lão cách đây hai năm đã gặp một tai nạn khủng khiếp trên một xa lộ. Sau sáu
tháng nằm bệnh viện, hắn được đưa về nhà trong tình trạng nửa sống nửa chết.
Hắn liệt cả hai tay hai chân và bị câm. Hắn nằm ụ một chỗ, tất cả mọi việc đều
phải trông cậy vào vợ và hai đứa con còn trong tuổi đi học. Thấy con dâu bận đi
làm, hai cháu lo học, lão ngày ngày đi xe buýt tới trông nom con. Người con dâu
khuyên can thế nào lão cũng không chịu. Lão biết rằng nếu phải thuê người để
săn sóc bệnh nhân thì con dâu lão không
đủ khả năng tài chánh. Không có người giúp, con lão sẽ phải nằm một mình ở
nhà. Sau khi chồng gặp tai nạn, người vợ
đã phải xin nghỉ không lương ngót nửa năm trời để săn sóc chồng. Bao nhiêu tiền
để dành trong ngân hàng phải lấy ra tiêu hết. Vì vấn đề sinh sống của gia đình,
bà ta không thể nghỉ thêm được nữa. Lão không giúp thì gia đình này sẽ tan nát
trong một tương lai gần, hai đúa cháu của lão sẽ phải bỏ học. Thôi thì còn sống
ngày nào lão sẽ dành hết cuộc đời này cho người con tàn tật của lão. May là lão
rảnh rang và còn đủ sức khỏe. Hồi đầu, mỗi lần nhìn con nằm bất động, mắt mở
trừng trừng , muốn nói mà không nên lời, lão không sao cầm được nước mắt. Lão
phải chạy vội vào phòng tắm, đóng kín cửa lại, rồi la lên hai tiếng :"Trới
ơi !" Nước mắt lão dàn dụa, ướt đẫm cả khuôn mặt nhăn nheo. Có lúc, cũng ở
trong phòng tắm đóng kín cửa, lão nghẹn ngào nói :"Sao không cho tôi chết
thay thằng con tôi, để tôi sống thế này
làm chi !" Ngày qua ngày, lão dần dần bình tĩnh lại. Rồi hai cha con bắt
đầu tìm cách nói chuyện với nhau. Người con tuy câm, nhưng vẫn nghe hiểu lời
cha nói. Hắn dùng mắt để diễn tả ý nghĩ của mình. Nếu chưa hiểu, lão sẽ hỏi
lại. Chớp mắt hai cái liền là bằng lòng. Một cái là không. Lão thường kể cho
con nghe những chuyện vui vui mà lão đã đọc trong báo hàng ngày. Nhờ vậy, nỗi
khổ đau của lão giảm bớt phần nào.
Bỗng một hôm,người con có vẻ mặt khó khăn buồn bã, muốn nói
với cha một điều mà chưa tìm ra cách phát biểu. Lão phải mất hơn một tuần mới
hiểu được ý con. Hắn muốn chết ! Hắn
muốn lão giúp hắn chết. Lão bàng hoàng trước ý muốn đó của con. Lão chợt nhớ
tới một câu nói mà lão đã đọc được ở đâu đó từ lâu lắm rồi :"Muốn sống cho
ra sống, ta phải tích cực làm việc và cũng tích cực hưởng thụ." Tình trạng
của con lão bây giờ là tình trạng của một kẻ đã chết. Nằm liệt một chỗ, bất cứ
việc gì cũng phải nhờ người khác làm hộ, có khác gì một xác chết. Giá hắn chết
ngay trong tai nạn thì đỡ khổ cho gia đình. Sự hầu hạ đã làm mệt mỏi mọi người,
rồi đi đến chán nản. Hắn muốn chấm dứt cái kiếp tàn tật, nửa sống nửa chết cũng
là điều hợp lý. Nhưng hắn không thể tự làm lấy việc đó, muốn nhờ lão giúp.
Không. Không thể nào lão giúp hắn được. Không một người cha nào nhẫn tâm có thể
giết con, dù đứa con đó đã chết đến chín phần mười, nằm bất động một chỗ như
một cái xác chưa chôn. Mỗi lần hắn nhìn lão bằng đôi mắt cầu khẩn, van lơn, lão
lắc đầu với một vẻ rất cương quyết. Thấy cha quyết liệt từ chối, hắn lộ vẻ buồn
bã, đôi mắt ngầu đỏ, đẫm ướt. Những lúc đó, lão bỗng thấy lòng mình trùng
xuống.
Ba tháng nặng nề trôi qua kể từ
ngày con lão ngỏ ý muốn chết. Hắn cũng thôi liên tục van nài lão giúp, chỉ
thỉnh thoảng hắn mới nhắc đến. Nhưng một hôm, khác với thường lệ, lão bất ngờ
đến thăm con vào một ngày cuối tuần. Lão nhận ra sự sa sút của gia đình con.
Khi con trai lão còn khỏe mạnh, gia đình có hai lương nên có một cuộc sống sung
túc. Hai đứa cháu gái của lão chỉ học hành và nhởn nhơ vui chơi, không phải lo
nghĩ gì. Bây giờ nhà chỉ có một lương, mà là loại lương thấp. Sự sa sút tất
nhiên phải tới. Con cháu lớn đã phải nghỉ học để đi làm toàn thời gian, còn con
nhỏ vừa đi học vừa đi làm bán thời gian. Thì ra con dâu và hai cháu lão đã dấu
lão về tình trạng sa sút của gia đình. Lão thầm tự trách sao lão không nghĩ ra
điều đó từ trước. Lương của người con dâu không đủ trang trải mọi chi phí trong
gia đình. Muốn giữ mức sống như cũ hoặc gần bằng cũ, đứa cháu lớn của lão phải
bỏ học đi làm là chuyện phải xẩy ra.
Lão nghĩ đến việc tặng con dâu và hai cháu số tiền để dành
nhỏ bé của lão. Thế là lão ra ngay ngân hàng rút hết số tiền mà lão có trong
quỹ tiết kiệm. Nhưng con dâu lão và hai cháu cương quyết từ chối. Lão nói thế
nào họ cũng không nhận. Cuối cùng, người con dâu đề nghị :"Hay Ba dùng số
tiền này để thuê người trông nom nhà con cho Ba đỡ vất vả." Đến lượt lão
phải từ chối, viện cớ lão muốn tự tay săn sóc người con bệnh hoạn, tàn tật. Lão
chẳng hề thấy vất vả, mệt mỏi. Lão thật tình không đành tâm thấy cháu phải bỏ
giở việc học. Tương lai của nó đang sáng sủa bỗng trở nên bấp bênh. Lão vẫn
biết ở Mỹ này những người có chí không bao giờ phải vĩnh viễn bỏ học, lúc nào
cũng có thể có cơ hội để trở lại trường, nhưng lão vẫn thấy xót xa khi thấy đứa
cháu ruột của mình không được tiếp tục đi học.
Có một lúc vì thương hai cháu quá
lão bỗng thấy thằng con tàn tật của lão là thừa trong gia đình này, thừa trong
cái xã hội đang tích cực hoạt động. Nhưng lão phải xua đuổi ngay ý nghĩ đó đi.
Thế mà không hiểu sao người bệnh
như đoán được ý nghĩ thầm kín đó của lão. Ngày đầu tuần, lão đến thì hắn lại
năn nỉ lão giúp hắn được chết. Tia nhìn van xin, cầu khẩn của hắn xoáy vào lòng
lão làm lão bỗng tê điếng toàn thân. Cái ý nghĩ thừa thãi lại đến với lão.
Nhưng lão cố xua đuổi nó đi và lão tránh nhìn thẳng vào mắt con. Lão thầm nói
với mình :"Con nào cũng là con, tàn tật hay bệnh hoạn cũng vẫn là con
!" Thế rồi buổi chiều khi ngồi trên xe buýt để về nhà lão lại chợt tự hỏi
:"Sống như vậy có đáng sống không ?" Lão không trả lời dược câu hỏi
đó. Hay lão không dám trả lời ?
Lão đã không trả lời trực tiếp mà
trả lời gián tiếp bằng cách xin hẹn gặp bác sĩ đã chạy chữa cho con lão trong
bệnh viện khi hắn vừa gặp tai nạn. Câu hỏi duy nhất lão muốn bác sĩ trả lời dứt
khoát xem tình trạng của con lão có thể cải thiện không ? Sau khi xem lại hồ sơ
bệnh lý cùng nhiều tấm phim chụp óc, bác sĩ
đáp :
"Nếu không có phép lạ nào,
tình trạng của con ông chỉ có mỗi ngày một suy kém đi, khó mà khá hơn
được."
Lưỡng lự một lúc khá lâu, lão hỏi :
"Kéo dài bao lâu thì…thì nó
chết ?"
Bác sĩ lắc đầu :
"Khó mà biết rõ được. Năm bảy
tháng, vài ba năm, có khi cả chục năm không chừng. Tôi đã thấy có người nằm như
vậy hơn mười năm."
Lảo thở dài, rồi từ biệt vị thầy
thuốc người Mỹ. Lão biết lão sẽ phải làm gì. Nhưng quả thật lão rất phân vân.
Rồi ngày tháng qua. Lão vẫn phân
vân, không thể quyết định làm cái việc mà lão đã cho rằng phải làm. Trong khi
đó, tình trạng sức khỏe của con lão trở nên tồi tệ hơn. Trước kia, mỗi khi muốn
tiểu hay đại tiện, hắn có thể cho lão biết kịp thời để lão sửa soạn giúp hắn.
Bây giờ, hắn cũng không biết mình bài tiết lúc nào. Sự giúp đỡ trở nên khó
khăn, vất vả. Chỉ trong vòng một tuần, lão cảm thấy mệt mỏi vô cùng. Như biết
tình trạng sức khỏe của cha, người con nhìn lão bằng đôi mắt ái ngại. Rồi hắn
lại van xin lão giúp hắn chết. Trước tia nhìn cầu khẩn của con, lão ngoảnh mặt
làm ngơ. Buổi chiều khi ngồi xe buýt để về nhà lão bỗng cảm thấy mệt rã rời.
Lão biết rằng với tình trạng này lão không thể cầm cự lâu được nữa. Nếu lão
chết trước con lão, hắn sẽ ra sao ? Vợ
con hắn sẽ ra sao ? Bỗng lão quyết định
hắn phải chết trước lão thì mới cứu được gia đình hắn khỏi bị xụp đổ thảm
thương. Mà rồi khi lão chết lão mới yên lòng nhắm mắt.
Cuối tuần đó, lão đến một tiệm bán
súng, ghi tên mua súng. Sau hai tuần chờ đợi để điều tra lý lịch, lão trở lại
tiệm, người bán hàng cho biết lão đã được phép. Thật ra chỉ cần một tuần điều
tra, lão đã trì hoãn thêm một tuần nữa. Lão chọn một khẩu súng nhỏ với một bì
đạn sáu viên. Lần đầu tiên cầm khẩu súng trong tay, lão thấy ngài ngại. Lão vẫn
nghĩ đời lão sẽ chẳng bao giờ làm quen với súng đạn, ai ngờ vào cuối đời lão
lại có riêng một khẩu nhỏ.
Nhưng khẩu súng được nằm yên ở một
nơi kín đáo trong nhà lão cả mấy tháng trời
Lão vẫn phân vân. Tuy nhiên, trong thời gian đó, lão đã bắt đầu sửa
soạn, tính toán. Lão gói ghém số tiền mà
lão đã rút từ quỹ tiết kiệm gửi đến cho người con gái út ở một tiểu bang khác
với lời dặn dò rất chi tiết. Những giấy tờ quan trọng lão cũng xếp lại thành
một bọc, gửi cho người con trai thứ nhì ở tiểu bang bên cạnh. Lão cũng dẹp luôn
mấy bàn thờ, đưa bát hương và ảnh những người đã khuất, gửi bà em họ cùng ở
trong vùng với lão. Mấy viên thuốc ngủ mà bác sĩ đã cho lão khi tinh thần lão
bị khủng hoảng sau tai nạn của người con, cũng đã được lão tìm ra. Lão không
muốn con lão trông thấy lão để khẩu súng lên ngực hắn mà bóp cò. Thuốc ngủ sẽ
làm hắn mê đi trước khi bị lão bắn. Có lẽ chỉ hai viên cũng đủ. Không, phải ba
viên cho chắc và nhanh. Lão chỉ cần bắn một viên vào giữa tim hắn. Rồi lão sẽ
gọi điện thoại cho cảnh sát báo tin lão đã giết con.
Dù lão đã tính toán, xếp đặt kỹ
càng mà lúc thực hiện chương trình không phải là dễ. Tim lão hồi hộp đập liên
hồi. Khi cho con uống thuốc ngủ thay vì thuốc bệnh hàng ngày, tay lão run bần
bật. Thoáng trong một giây lão muốn thay đổi ý kiến, nhưng lão cố tự trấn an là
thầm nhủ rằng lão đang cứu con lão khỏi cái kiếp sống thừa nhục nhã, rằng lão
đang cứu hai đứa cháu…Rồi khi hắn đã ngủ
mê man, lão lấy súng ra, nhưng loay hoay mãi mới đưa được viên đạn lên nòng,
một phần vì tay lão run quá, một phần vì đây là lần đầu lão xử dụng súng.
Rồi sau khi con lão đã chết, máu
tuôn xối xả từ ngực hắn, lão hoảng sợ ném khẩu súng xuống đất. Lão ôm lấy mặt
khóc nghẹn ngào. Lão chợt hối hận đã làm một việc quá liều lĩnh, táo bạo. Lão
tự hỏi tại sao lão lại giết con ? Lão
như người mất hồn ngồi cạnh xác con lẩm bẩm nói :"Ba xin lỗi con. Trời ơi,
ai xui tôi giết con tôi thế này ? Tôi
tỉnh hay mê ?" Cả tiếng đồng hồ sau lão mới chợt nhớ đến việc phải làm là
gọi điện thoại cho cảnh sát.
X
X X
Tiếng ồn ào chung quanh kéo lão trở
về với hiện tại. Lão nhớ ra rằng lão đang ngồi trong tòa án, bên cạnh vị luật
sư chỉ định. Luật sư nói nhỏ với lão :
"Tòa tạm nghỉ, ngày mai họp
lại. Bồi thẩm đoàn đang thảo luận, chưa có quyết định gì. Tôi đã trình bày và
trưng các bằng cớ là con ông không thể sống được. Bác sĩ chữa cho hắn cũng được
mời ra làm chứng. Tôi tin ông có thể được giảm khinh."
Lão gật đầu tỏ ý cảm ơn, nhưng vẫn
không nói một lời. Một viên cảnh sát ra lệnh cho lão đứng lên, rồi người ta
còng cả hai tay lẫn hai chân lão. Vị luật sư
lại nói :
"Cứ an tâm, không đến nỗi nào
đâu."
Lão lại chỉ gật đầu tỏ ý cảm ơn. Lão thầm công nhận ông ta
là người có lương tâm. Khi cảnh sát kéo lão đi, lão vội nghiêng mình chào ông
ta. Lão vừa bước chân ra khỏi cửa tòa án
bỗng có hai người con gái nhào về phía lão. Mấy viên cảnh sát đã kịp
thời ngăn họ lại. Một người liền lên tiếng giải thích bằng tiếng Mỹ lưu loát :
"Chúng tôi là cháu nội, xin
cho phép được gặp ông chúng tôi."
Mấy viên cảnh sát nhìn nhau, rồi
một người nói :
"Lẹ lên. Chúng tôi không có
thì giờ."
Cả hai cùng reo lên :"Cảm ơn
!" rồi một người ôm lấy lão, nức nở :
"Ông…Cháu thương ông quá. Ông đã
cứu ba cháu."
Người cháu gái thứ hai nắm lấy tay
lão, nghẹn ngào :
"Ông đã cứu cả gia đình
cháu."
Cái vẻ trơ trơ sắt đá của lão bỗng
tan biến. Lão như vừa cảm động vừa vui
thích. Lão không định cười mà môi lão vẫn mở ra, méo xệch. Hai hàng nước mắt
lăn trên đôi má hóp nhăn nheo. Ngay lúc đó, một viên cảnh sát kéo lão lên xe.
Nhưng lão cũng kịp thoáng nghe tiếng người con dâu nói phía sau :
"Ba, con chưa thấy người cha
nào hy sinh cho con cái nhiều như Ba."
TQK
02 - 2000
Thursday, June 6, 2013
Saturday, June 1, 2013
THỊT CHÓ
Tạ Quang Khôi
(Viết phiếm)
|
T
|
huở ấu thơ, tôi
sống trong một ngôi làng trù phú ven sông Hồng. Bố Mẹ tôi ra tỉnh buôn
bán, để anh chị em chúng tôi sống vớI môt bà cô ruột tạI quê nhà. Cô tôi không
lấy chồng, dù hồI trẻ cô cũng có nhiều ngườI nhòm ngó, mốI lái. Mẹ tôi cho biết
cô quyết tâm ở vậy để hầu hạ bà nộI tôi mù lòa từ ngày ông nộI tôi qua đời.
Cuộc sống của anh chị em tôi trong ngôi làng nhỏ này thật yên bình và đầy tràn
hạnh phúc. Chúng tôi cũng được đi học. Trường học chỉ là một gian nhỏ trong ngôi
đình làng, thế mà cũng gồm đủ cả ba lớp : Năm (cours Enfantin), Tư (cours Préparatoire)
và Ba (cours Élémentaire). Trường do một thầy hương sư phụ trách. Những ai học
hết lớp ba và thi đỗ sơ học yếu lược, sẽ lên huyện để tiếp tục học. Anh và chị tôi
không lên huyện mà lên thẳng tỉnh vớI bố mẹ tôi.
Còn lại một mình, tôi được cô thương
và chiều hơn nên sống rất tự do và phóng túng. BuổI chiều, dù trời lạnh hay nóng,
hết buổi học, tôi chạy ra đồng vui chơi vớI bọn trẻ chăn trâu. Chúng nó chính là
bạn học cùng lớp với tôi, chẳng phải ai khác. Gia đình chúng đều có ruộng cày,
nên nhà nào có ít nhất một con trâu. Bố Mẹ tôi cũng có ruộng, nhưng cho cấy rẽ
nên không phảI nuôi trâu. Thú chơi của chúng tôi là đánh khăng, đánh đáo…Vào những
ngày hè nóng nực, chúng tôi còn xuống sông bơi lội. Chúng tôi vừa chơi đùa vừa canh chừng mấy con
trâu để ngăn chúng không đến gần các ruộng lúa. CuốI cùng, chúng tôi thường mon
men tớI mấy luống khoai, bớI trộm vài củ, đem xuống sông rửa sạch đất cát, rồI
ăn ngấu ăn nghiến. Chúng tôi không phải là những kẻ đói khát, nhưng chỉ muốn
nghịch ngợm, vui chơi thôi. Lấy trộm một vài củ khoai trong một làng giầu có như
làng tôi không phải là một tội đáng trừng phạt. Dân làng tôi có một cuộc sống
khá sung túc, không đến nỗi đói khổ như nhiều nơi khác trong vùng trung châu Bắc
Việt. Vấn đề ăn uống của dân làng tôi không bị hạn chế. Họ có nhiều dịp để được
ăn thịt thả cửa. Thịt lợn là món ăn thường xuyên của mọi người. Thịt gà thì hiếm
hơn, dù nhà nào cũng có một chuồng gà ít nhất có 5, 7 con, mà cũng không phải vì
“vườn rộng, rào thưa”. Tôi chưa thấy làng tôi giết trâu hay giết bò bao giờ. Cô
tôi cho biết nhà nông coi trâu, bò là bạn nên không nỡ giết. Quả thật, trâu, bò
giúp nhà nông rất nhiều. Người ta còn cho rằng mùi thịt bò gây gây, không ngon.
Còn thịt trâu thì lạnh, không tốt cho sức khỏe con người.
Ngoài lợn gà, trâu bò, dân làng đôi
khi cũng ăn thịt chó. Năm, bảy nhà trong xóm đánh đụng một con. Có lần bác ruột
tôi cùng với mấy nhà trong xóm làm thịt một con chó, tôi được bác gọi tới. Cô tôi
không thích thịt chó, nhưng lại không muốn mất lòng ông anh cả nên miễn cưỡng
cho phép tôi sang nhà bác. Mâm cỗ chó có nhiều món quá, tôi chẳng biết món nào
với món nào. Ðây là lần đầu tôi được dự bữa tiệc chó. Thấy tôi ngơ ngơ ngác ngác,
bác tôi chỉ từng món để giải thích. Này, đây là chả nướng, đây là dồi, kia là bát
nhựa mận, còn đĩa bún này để ăn với xáo. Cuối cùng bác khuyên :
“Muốn biết con chó ngon hay không
ngon, chỉ nên ăn thịt luộc. Những món khác đều có pha chế mắm muối, giềng mẻ nên
làm mất mùi vị chính.”
Hôm ấy, tôi ăn thử tất cả các món,
món nào cũng thơm ngon hết. Còn là trẻ con, chưa biết thưởng thức của ngon vật
lạ, nên cứ được ăn là tôi ăn ngấu nghiến. Tôi chẳng thấy sự khác biệt nào giữa
các món. Ðối với tôi, thịt luộc nhạt nhẽo quá. Tôi thích nhất món xáo ăn với bún.
Bữa tiệc thịt chó của tôi chỉ kéo dài
không đầy 15 phút. Trong khi đó, bác tôi và mấy ông hang xóm ngồi khề khà gần
trọn một ngày. Các ông vừa ăn vừa uống rượu và cà kê dê ngỗng nói đủ mọi thứ
chuyện. Rượu của dân làng tôi là thứ rượu làm lấy. Loại rượu này chính quyền thực
dân Pháp gọi là rượu lậu. Người Pháp không cho dân mình làm rượu vì họ muốn giữ
độc quyền sản xuất rượu cho các nhà tư bản Pháp. Ngoài Bắc, dân chúng chỉ được
quyền uống rượu của nhà máy rượu Văn Ðiển ,
Nam Ðịnh và Gia
Lâm. Rượu của những nhà máy này được bán chính thức, dân chúng quen gọi là “rượu
ty”. Rượu mà dân làm lấy để uống hay bán đều bị coi là rượu lậu. Người làm rượu
lậu, nếu bị bắt, có thể bị tù đến mọt gông. Nhưng dân làng tôi vẫn lén lút nấu
rượu vì họ chê “rượu ty” không ngon, gắt quá, nồng quá. Nấu rượu tức là phạm pháp,
dù không mua đi bán lại.
Một hôm, vào một ngày hè nóng nực,
tôi đã thi đỗ bằng Sơ Học Yếu Lược và sửa soạn hết hè sẽ lên tỉnh với bố mẹ tôi
để tiếp tục đi học, làng tôi bỗng xôn xao, hoảng hốt. Dân làng hớt hơ hớt hải báo
cho nhau biết là Tây đoan đã ập tới đầu làng. Tây đoan về làng là tai họa sẽ xảy
ra. Tôi đang chơi đùa với các bạn ờ ngoài đồng cũng bị đuổi về nhà. Gần trọn ngày
hôm đó, lính đoan từ trên tỉnh về sục sạo từng nhà để tìm rượu lậu và đồ nấu rượu.
Chúng vào cả nhà tôi tìm kiếm cả giờ, tất nhiên là chúng không tìm thấy gì. Ðến chiều, khi mặt trời đã xế bóng, chúng ra
về tay không. Tôi không hiểu người ta giấu rượu và đồ nấu rượu ở đâu mà lính đoan
không tìm ra nổi. Khi cả bọn họ đã lên xe hơi, bỗng tên Tây đoan đầu xỏ phát giác
ra rằng thiếu con chó tây của hắn. Thế là bọn lính lại phải bổ đi khắp nơi để tìm
nháo tìm nhào. Nhưng cho đến khi mặt trời đã lặn, chúng cũng không tìm thấy con
chó quý đâu. Chúng phải về tay không. Hôm sau, rồi cả tuấn sau, chúng lại cho
người về tìm chó. Rồi chúng cũng phải bỏ cuộc vì không có một dấu vết nào để có
thể tìm ra manh mối. Câu chuyện con chó mất tích dần dần cũng chìm vào quên lãng.
Vào cuối hè, khi tôi sửa soạn từ biệt bà nội và cô tôi để lên tỉnh học, chuyện
con chó mất tích bỗng lại được nhắc tới. Trước ngày lên đường, tôi phải sang chào
bác tôi. Tôi tới nhà bác vào lúc bác đang có khách. Bác gái đưa tôi vào thẳng
nhà ngang. Khi đi qua nhà khách, tôi nghe loáng thoáng mấy ông khách của bác tôi
chê thịt chó tây không ngon, hơi béo và có mùi gây gây. Nghe chê như vậy, tôi đã
nghi nghi, nhưng không dám hỏi han gì. Khi khách khứa về hết, bác tôi vào nhà trong
gặp tôi và để dúi cho tôi mấy xu gọi là tiễn tôi đi học xa. Sau đó, tôi nghe bác
nói chuyện với bác gái là mấy ông ở xóm dưới đã ăn thịt con chó tây của tên tây
đoan. Khi chợt nhớ ra có tôi đang ở cạnh, bác không nói tiếp nữa, còn dặn tôi
phải giữ kín chuyện này, tiết lộ ra là chết cả làng, chứ không phải chỉ mấy người
bắt trộm chó và ăn thịt chó. Cho đến nay, khi viết lại những dòng này, tôi vẫn
không hiểu dân làng tôi làm sao giấu được rượu mà họ vẫn nấu, giấu được cả đồ
nghề nấu rượu nữa. Con chó tây cũng không phải là một con vật nhỏ bé, thế mà họ
cũng giấu kín được, rồi lén lút ăn thịt nó.
Sau này, khi ra tỉnh học, tôi thấy
dân tỉnh lỵ coi việc ăn thịt chó là bình thường, thậm chí có cả hiệu bán thịt
chó. Mỗi lần đi qua, tôi thấy người ta treo đùi và dồi chó để mời gọi khách. Mẹ
tôi tuy theo đạo Phật, nhưng thỉnh thoảng cũng mua thịt chó về cho bố tôi nhắm
rượu. Bố tôi không có rượu lậu để uống nên thường sai tôi ra đầu phố mua rượu của
ty, gọi là rượu ty, tức là rượu nhà nước sản xuất. Cụ thích nhất rượu Gia Lâm, đựng
trong một chai nhỏ. Ở miền Bắc, đơn vị đo lường của rượu là “cút” (một cút rượu).
Hình như chai rượu Gia Lâm là chai hai cút. Tôi không rõ một “cút” có bằng một
“xị” của miền Nam
không ? Mỗi lần rảnh rỗi ngồi uống rượu một mình, bố tôi chỉ uống hết nửa chai
rượu Gia Lâm. Ðôi khi bố tôi cũng có bạn nhậu, đó là ông hang xóm. Ông này đặc
biệt chỉ thích ăn thịt luộc và nậm chó. Tôi không hiểu nậm là cái gì nên một hôm
hỏi thẳng ông. Thì ra nậm là cái vú của con chó cái. Ông khen nậm vừa dòn vừa béo
ngậy. Nhưng nậm rất ít bán vì chỉ chó cái mới có.
Dân trong tỉnh tôi hồi đó không có
một tiếng lóng nào để gọi thịt chó. Người ta cứ nói thẳng là “thịt chó”, như thịt
lợn, thịt bò hay thịt gà... Sau này, trong vùng kháng chiến chống Pháp, lần đầu
tiên tôi nghe nói “hạ cờ tây” thì không hiểu là chuyện gì, cứ tưởng là đem quân
tấn công đồn Tây để hạ cờ lá cờ xanh trắng đỏ (thường gọi là cờ tam tài) của Tây
đang bay phất phới trên cao. Mãi đến khi thấy các bạn trong đơn vị trói một con
chó để cắt tiết, tôi mới hiểu rằng “hạ cờ tây” là hạ cầy tơ. Khi đã di cư vào
Nam, người ta lại gọi thịt chó là “nai đồng quê” vì gần nhà thờ Ba Chuông, đường
Trương Minh Giảng, có một tiệm bán thịt chó lấy tên là “Nai Ðồng Quê”. Gọi như
vậy là có ý coi con chó giống như con nai, không ở trong rừng mà ở ngoài đồng
ruộng. Ví như vậy, tôi cho là không đúng, vì thịt nai khác với thịt chó, mỗi loại
thịt có một mùi vị riêng và cách nấu nướng cũng không giống nhau. Nai là loại ăn
cỏ, lá cây, chó là loại ăn thịt. Chó ở Việt Nam còn ăn cả phân người nữa. Những
người ghét ăn thịt chó cho rằng ăn thịt chó tức là ăn…phân người một cách gián
tiếp. Nói như vậy là hoàn toàn sai lầm và phản khoa học. Ngày xưa, khi chưa có
phân bón hóa học, ở Việt Nam ,
nhà nông cũng bón ruộng bằng phân người. Vậy, ăn cơm cũng là ăn phân một cách
gián tiếp sao ?
Ngày xưa, vào đầu thế kỷ 20 có một ông
tổng đốc một tỉnh sát Hà Nội, cũng là một tay nghiện thịt chó, đã nghĩ ra một cách
rất sạch sẽ để “hạ cờ tây”, khỏi bị coi là ăn phân người một cách gián tiếp. Ông
cho đầy tớ ra chợ tìm mua một con chó vào loại choai choai, đúng là “cờ tây”.
Khi đem về dinh tổng đốc, con chó được “cách ly” với thế giới bên ngoài để khỏi
ăn lầm phân người. Nó được “tẩm bổ” bằng cơm trắng và thịt nấu nướng rất sạch sẽ.
Sau một tháng tẩm bổ, con chó mới bị cắt tiết. Không biết mùi vị thịt con chó được
“ăn chay” có khác với thịt chó trong dân gian không ? Hay cũng phải có giềng mẻ
mới đúng vị “cờ tây” ?
Nói đến chuyện ăn thịt chó, chắc
nhiều người hâm mộ thể thao, nhất là bong đá, hẳn chưa quên chuyện tranh cãi giữa
người Triều Tiên với cô đào chiếu bóng của Tây nổi tiếng khiêu gợi một thời, đó
là nảng Brigitte Bardot. Mùa hè năm 2002, trong khi thế giới đang sôi nổi theo
dõi các trận đá bóng quốc tế, Nàng BB, nhân danh là chủ tịch một hội bảo vệ súc
vật của Tây, lên tiếng chê người Triều Tiên không văn minh vì mê “hạ cờ tây”.
Người Triều Tiên bèn lên tiếng tự biện hộ rằng “hạ cờ tây” là một sắc thái của
văn hóa Triều Tiên. Nàng BB liền trề môi nói :”Cái gì mà văn hóa ! Văn hóa là văn
chương, chữ nghĩa, âm nhạc, đâu có liên quan gì đến việc đớp cầy tơ. Chó là giống
vật có nghĩa, tinh khôn, nên đã được coi là bạn của loài người. Ai lại đi giết
bạn để nhậu bao giờ !”
Nói như vậy là em BB cũng chưa hiểu
rõ hai chữ văn hóa. Theo các nhà nghiên cứu văn học, văn hóa chính là lối sống
hàng ngày của con người, với những thói quen, những tập tục có từ lâu đời. Vì
thế, mỗi xã hội có một nền văn hóa riêng và văn hóa có thể thay đổi tùy thời, tùy
từng khu vực, với mục đích làm cho con người sống thoải mái hơn, có nhiều hạnh
phúc hơn. Vì thế, dân Triều Tiên nói rằng ăn thịt chó chính là một sắc thái của
nền văn hóa Triều Tiên là trúng phóc.
Ngày xưa, người Tàu thường nói
:”Khuyển mã chi tình.”, nghĩa là ngựa và chó đều có tình nghĩa với người nuôi nó.
Ðã có những chuyện xưa kể lại rằng khi chủ chết, con chó hay con ngựa ra nghĩa địa
nằm cạnh mộ của chủ rồi chết theo chủ. Nàng BB chê người Triều Tiên kém văn
minh mới ăn thịt chó. Thế là em quên không sờ gáy của em rồi. Dân Pháp có thua
gì dân Triều Tiên khi họ ăn thịt ngựa. Bít tết (steak) ngựa là món ăn được dân
Pháp coi là ngon nhất và đắt tiền. Ăn thịt ngựa cũng có thể coi là một sắc thái
riêng của nền văn hóa Pháp.
Sau ngày cộng sản chiếm miền Nam , dân Nam được biết thêm một món ăn khoái
khẩu nữa của bộ đội Bắc Việt, đó là thịt mèo. Ðêm đêm họ đi lùng bắt mèo hoang
về nấu cà ry. Họ cho biết cà ry mèo rất ngon vì thịt mèo giống thịt thỏ. Không
biết sau này người Nam
có ai bắt chước bộ đội cộng sản ăn thịt mèo không ? Trước năm 1975, ở trong Nam , hầu
như rất ít người biết thưởng thức món ăn kỳ lạ này.
Riêng tôi, thịt mèo chưa bao giờ tôi
nếm một miếng dù nhỏ tý tẹo, còn thịt chó tôi cũng “cai” luôn sau khi nhìn thấy
con chó sắp bị cắt tiết khóc, nước mắt chảy dòng dòng. Một hôm, tôi được một ông
bạn mời tới nhà ăn mừng con ông vừa đỗ tú tài toàn phần hạng tối ưu, có nhiều
hy vọng được học bổng đi du học. Ông mời khá đông bạn bè, nhưng tôi là một khách
đặc biệt vì đã có chút công giúp cho con ông được đỗ hạng cao. Vì thế, tôi đến
nhà ông chơi từ sang sớm. Nhà ông ở vùng ngoại ô Saigon
nên có vườn rộng, mát mẻ. Ông cũng là một nhà giáo như tôi, nhưng thuộc lớp đàn
anh. Ðến nơi, tôi mới biết ông sẽ “thịt” một con chó để đãi khách. Con chó đã
mua từ mấy hôm trước và sẽ bị cắt tiết vào buổi xế trưa. Chuyện giết chó để đãi
khách là một chuyện thường xảy ra, không có gì đáng nói. Thế rồi, sau bữa cơm
trưa, người ta nhộn nhịp sửa soạn giết chó. Tôi đã nhiều lần ăn thịt chó, nhưng
chưa bao giờ được xem cắt tiết. Tôi đề nghị ông bạn đưa tôi ra “pháp trường”. Ông
vui vẻ nhận lời ngay. Con chó bị trói cả bốn chân và bị treo ngược lên một cành
cây ngoài vườn. Ðó là một con chó vàng. Theo những người sành thịt chó thì thịt
chó vàng ngon vào hạng nhì, vì thế đã có câu :”Nhất mực, nhì vàng, tam khoang,
tứ vện.” Cũng có nơi, người ta xếp hạng khác một chút :“Nhất vàng, nhì vện, tam
khoang, tứ mực.” Tôi không biết cách xếp hạng nào đúng vì không phải là một tay
sành cẩu nhục. Ngoài bốn loại vừa kể, tôi còn thấy chó lài, loại chó ta lai
berger. Nó không vàng, không vện, không khoang và cũng không mực luôn. Thịt chó
lài không biết có ngon không mà không thấy ai nhắc tới. Cạnh con chó vàng sắp bị
cắt tiết, người ta đã để sẵn mấy tô lớn, chuẩn bị hứng máu chó. Tôi tò mò đến gần
con vàng để nhìn rõ hơn. Nó cũng nhìn tôi và tôi chợt nhận ra hai hàng nước mắt
của nó. Tôi thốt kêu :”Con chó khóc, anh
ạ.” Ông bạn cười :”Nó biết gì mà khóc với mếu. Mình treo ngược nó, làm cho cơ
thể nó có một phản ứng gì đó, nên nước mắt chảy ra. Cũng như con cá sấu khi há
mõm đớp mồi thì nước mắt chảy ra. Vì thế, người ta gọi những người khóc vờ, giả
bộ thương kẻ khác là nước mắt cá sấu.” Tôi không nghĩ lời giải thích ấy là đúng
vì tôi nhớ tới câu nói của người xưa ”Khuyển mã chi tình.” Bảo rằng nó không biết
gì tại sao nó lại có tình với chủ ? Phải chăng con chó vàng này biết nó sắp chết
? Bản năng tự tồn của một sinh vật thúc đẩy nó có phản ứng tiêu cực là khóc vì đã
bị trói cả bốn chân ?
Bữa thịt chó hôm ấy tôi không ăn một
miếng nào, chỉ ngồi nói chuyện xuông với khách khứa cho vui. Ðó cũng là bữa cuối
cùng trong đời tôi vì mỗi lần nghĩ đến thịt chó, tôi lại nhớ đến hai hàng nước
mắt của con vàng.
TQK
Monday, May 13, 2013
Tình đời
Thôi
quên đi nhé, tình đời !
Bạc đen thì cũng một cười cho qua.
Kiếp
người như áng mây xa.
Mưa tan, gió đuổi... lại là hư vô
Thao thức
Xin cảm ơn đời
cho ta cuộc sống,
Cảm ơn người, cay
đắng lênh đênh.
Hờn tủi đó vẫn
muôn vàn tha thiết,
Cúi đầu xin trọn
kiếp mong manh.
Hồn bỏ ngỏ cho
trăm chiều say đắm,
Đổi thay nhiều,
giông bão nát con tim.
Tóc úa màu nương
dâu bãi biển,
Thao thức hoài
đêm trắng vẫn từng đêm.
Kiếp sống thừa
Lỡ
tay đánh rớt bao ngày tháng,
Tuổi bỗng đi
hoang nửa kiếp thừa.
Nặng trĩu hai vai
tình cố quận,
Cuộc đời ngó lại
: chuỗi ngày mơ.
Dằn vặt tháng
ngày cơm áo nặng,
Lưu vong tàn kiếp
cũng là hư.
Nửa vòng trái đất
thương và nhớ,
Mây trắng hồn ai
vẫn lững lờ .
.
Thương nhớ
Nửa vòng trái đất xa xôi quá,
Thao thức đêm dài thương nhớ ai.
Mây trắng có bay về xứ mẹ ?
Xin mang thương nhớ đến cho Người.
Không khóc mà sao nước mắt dài ?
Trong mơ chỉ thấy một Người thôi !
Người đâu có biết rằng thương nhớ
Bóp nghẹn tim ta đến ngậm ngùi !
Hò hẹn trăm năm kiếp tái sinh,
Sao thần thoại hóa chuyện ân tình ?
Luân hồi ai chắc còn tao ngộ ?
Thương nhớ cho tàn kiếp mỏng manh.
Gian dối
Anh là kẻ ăn gian nói dối,
Suốt cả đời chưa
nói thật một lần.
Chẳng hề thương
nhưng sẵn sàng thề thốt :
Yêu tha thiết,
yêu đắm đuối, vô ngần
Em nào hay nên
vẫn yêu vẫn nhớ,
Tôn anh làm thần
tượng của hồn em !
Ngây thơ quá, vẫn
tưởng đời mật ngọt.
Khi đã yêu, yêu
đến cạn máu trong tim !
Anh gan lì, chẳng
bao giờ hối hận,
Dù biết em sẽ đau
khổ ê chề.
Nhưng cuộc đời
toàn những trò xảo trá,
Nên anh muốn em
cứ tiếp tục hôn mê...
NỖI NHỚ
Giọt thu vang động trong hồn,
Gió thu nghe lạnh
đã luồn vào song.
Một đời nửa kiếp lưu vong,
Ngẩn ngơ trái đất
nửa vòng tay ôm..
Bóng đêm
Nắng một ngày xuân
bỗng hắt hiu,
Em đi,
trời đất cũng tiêu điều.
Tương lai một phút
tan thành khói,
Và cả hồn anh đã
chết theo.
Anh mất
em rồi, vũ trụ tan,
Tim anh còn lại
nhúm tro tàn,
Hai mươi năm cũ, vèo, cơn mộng !
Hạnh
phúc trôi theo suối lệ tràn.
Còn có
bao giờ anh gặp Em ?
Máu nào
đã chảy lại về tim ?
Em ơi,
thôi thế đời tan tác !
Còn lại trong
anh chỉ bóng đêm.
Ðàn
con nhỏ dại hãy thơ ngây,
Em nỡ buông xuôi mặc tháng ngày ?
Khắn
trắng trên đầu, con khóc mẹ,
Lòng anh thổn thức
lệ vơi đầy.
10 tháng 5, 1981
Tuesday, May 7, 2013
TIẾNG KHÓC
TẠ QUANG KHÔI
R
|
a
khỏi chợ Bến Thành, Khanh đi về phía trường Đại học Văn khoa. Nàng bước thật
chậm, luôn luôn ngừng lại trước những tủ kính của các hiệu buôn. Khanh chợt
thấy bóng mình hiện rõ trong một tấm gương của một hiệu bán tạp hóa. Nàng thấy
mình già hẳn đi, trước tuổi rất nhiều. Nhưng những nét đẹp trên gương mặt nàng
chưa mất hẳn. Mái tóc hơi rối, xõa xuống ngang vai. Đôi môi mọng đỏ, rất ít khi
cười, nhất là từ năm năm nay. Nàng đã khéo léo buông lơi mấy sợi tóc xuống đến
ngang mày mà cũng không che nổi những nếp nhăn trên vầng trán. Nàng không ngạc
nhiên về sự già sớm ấy và cũng không lạ trước vẻ mặt bình thản đến lạnh lùng
hiện có của mính. Trong ngày hôm nay, số phận của Chuyên sẽ được định đọat.
Nàng không vui, cũng chẳng buồn. Chuyên được tự do hay phải ở tù đều không ảnh
hưởng gì đến cuộc sống của nàng, cả vật chất lẫn tinh thần. Từ ngày lấy Chuyên,
lòng nàng đã chết, tâm hồn nàng thôi xúc động. Nàng lạnh lùng như một khối băng
thạch. Chỉ thỉnh thỏang lòng nàng mới ấm lên được một chút vì hình ảnh Mai.
Nghĩ đến người yêu cũ, lòng nàng không khỏi
tê tái. Nhưng có một điều Khanh thấy tự an ủi là biết chắc lúc nào Mai cũng
nghĩ tới nàng. Từ ngày nàng lấy chồng, Mai vẫn kéo dài cuộc sống độc thân để ôm
ấp mãi hình bóng người yêu cũ.
Mai là người đầu tiên chiếm trọn tâm hồn
Khanh. Mà cũng là người cuối cùng. Sau bốn năm thầm lén yêu nhau, Mai cậy người
đến hỏi Khanh. Gia đình Khanh phản đối kịch liệt. Cha mẹ nàng ép nàng lấy
Chuyên, một sinh viên y khoa sắp ra trường.
"Nhất là tao coi như không có mày, chứ
nhất định tao không bao giờ gả mày cho thằng Mai."
Hơn một lần mẹ nàng nói như vậy khi thấy nàng
buồn ủ rũ vì mối tình ngang trái. Khanh không dám cãi lời cha mẹ, nhưng nàng
cũng khó có thể quên Mai. Trong khi đó, bên nhà Chuyên luôn luôn xin cưới, lấy
cớ Chuyên sắp phải đi xa sau khi ra trường. Biết không còn hy vọng gì nữa,
Khanh hẹn gặp Mai. Nàng ôm lấy người yêu mà khóc.
"Anh, nhất định chúng ta phải xa nhau
rồi. Em không dám cưỡng lời Ba Mẹ em. Như anh đã biết, Ba em vừa ốm khỏi, em sợ
bệnh có thể tái phát nếu Người buồn phiền vì
em. Trong nhà, Ba em thương em
nhất vì chỉ có mình em là gái. Em không nỡ làm ba em buồn, thất vọng vì em. Anh
có tin rằng dù phải xa anh, em lúc nào cũng thuộc về anh không ? Em chả có tình nghĩa gì với Chuyên hết. Xác
em sống cạnh hắn, nhưng hồn em luôn luôn đi theo anh. Đây là lần cuối cùng em
khóc với anh, mà cũng là lần khóc cuối cùng trong đời em. Buồn vui từ nay không
còn ảnh hưởng gì đến em nữa."
Ngừng lại một vài giây, Khanh bỗng cười ngặt
nghẽo khiến Mai ngạc nhiên. Rồi nàng nói tiếp :
"Thế là từ nay không còn những phút giận
hờn, nũng nịu vì bị anh ăn hiếp nữa. Anh chúa là hay ăn hiếp em, thế mà Ba Mẹ
em cứ nói em yêu anh chỉ vì anh biết chiều chuộng em. Cái mặt anh có bao giờ
biết chiều chuộng đàn bà đâu, đến là ghét. Sau này, khi anh lấy vợ - chắc là
phải như vậy, vì em không muốn anh sống độc thân mãi, em thương lắm - xem anh
có dám ăn hiếp vợ anh không. Hay chính anh bị người ta ăn hiếp."
Nàng lại cười. Mai vẫn ngồi im lặng và bất
động.
"Việc gì anh cứ phải giữ cái vẻ mặt buồn
rầu mãi thế ? Vui cho nốt buổi nay đi
rồi xa nhau. Em nhớ con Kim, bạn học cùng lớp với em, nó bảo mối tình đầu
thường bị tan vỡ. Trước em không tin, bây giờ thì em phục nó quá. Biết thế
chúng mình đừng yêu nhau có phải đỡ đau khổ không anh nhỉ. Em sắp lấy chồng,
rồi anh cũng phải lấy vợ. Nhưng anh phải cho em biết trước người anh định lấy
để em xem họ có biết lo cho anh không. Em chỉ sợ anh lấy phải người vợ chẳng ra
gì...Em thương anh quá. Anh là người đa cảm và yếu đuối, chỉ có em mới lo cho
anh được. Tội nghiệp cho cưng của em quá."
Khanh lại khóc. Mai vẫn ngồi im lặng như
người mất hồn.
"Tại sao chúng ta lại yêu nhau, hở anh
? Tại sao anh không ghét em để em yên
lòng đi lấy chồng ? Tại sao anh không
yêu con Nhung, con Loan, con Oanh, con Hồng mà lại yêu em ? Em ghét anh lắm, anh có biết không ?"
Mai chỉ ngồi thẫn thờ nhìn người yêu chợt
khóc chợt cười trong khi kể lể.
Nhớ lại cảnh chia tay ấy cách đây đã năm năm,
Khanh vẫn thấy lòng bồi hồi thương cảm. Nàng không sao quên được nét mặt đau
khổ của người yêu buổi đó. Nàng không hiểu bây giờ chàng ra sao. Nàng thầm gọi
tên người yêu một cách âu yếm. Nàng nhìn lại bóng mình trong tủ kính. Vẫn cái
vẻ bình thản cố hữu và sắt đá. Nàng nhẹ vuốt mấy sợi tóc xõa trên trán. Cái vẻ
bình thản này nàng có từ ngày xa Mai. Nó đã khiến nhiều người khó chịu. Vui
không cười, buồn không khóc ! Lúc nào nàng cũng giữ nguyên một vẻ mặt, lạnh lẽo
như một khối băng thạch.
Hồi đó, ít lâu sau ngày nàng chia tay với
Mai, mẹ nàng đem chuyện cưới hỏi ra bàn với nàng. Chia bao nhiêu phần bánh, in
bao nhiêu thiệp, mời những ai, xe rước dâu mấy cái, lễ tơ hồng thế nào,
v.v...Nàng chỉ ngồi nghe mà không góp một lời. Chờ cho mẹ nói xong, nàng đứng
dậy xin phép đi học, không bày tỏ một ý kiến nào. Thấy thế, mẹ nàng giận đến
tái người.
Sau ngày cưới, Khanh vẫn không thay đổi thái
độ.
Biết vợ đối với mình không một chút tình
nghĩa, Chuyên rất bực mình, nhưng cũng chỉ giũ im lặng. Bây giờ nghĩ lại, Khanh
cũng thấy mình tàn nhẫn. Nhưng không phải lỗi ở nàng. Chính hắn đã làm cho nàng
ghét hắn. Khi bị gia đình ép lấy hắn, Khanh đến tìm hắn để van xin hắn buông
tha cho nàng, nhưng hắn cương quyết từ chối.
Khanh vừa bước xuống đường để đi về phía tòa
án, chợt có một bàn tay vỗ nhẹ lên vai nàng :
"Cô giáo đi đâu đấy ?"
Khanh nhận ra tiếng Thúy ngay, một người bạn
rất thân của nàng. Thúy cười :
"Bồ đi xem tòa xử đức phu quân, phải
không ?"
Ba tiếng "đức phu quân" Thúy nói
bằng một giọng hài hước làm Khanh suýt phì
cười. Vì là bạn rất thân, hai người không dấu nhau bất cứ một chuyện
nào. Thúy hiểu tâm sự bạn nên rất thương bạn và không ưa Chuyên.
Thúy
nói :
"Còn sớm chán. Ra đường Lê Lợi với mình
đã."
Khanh bước theo bạn mà tâm trí để mãi đâu
đâu. Nàng nghĩ đến Chuyên và tội lỗi của hắn. Hai mạng người bị hắn giết trong
một cơn ghen. Nàng không ngờ con người nhu nhược như hắn lại có thể phạm tội
sát nhân. Trong gia đình, mọi người đều qui tội cho nàng. Ai cũngï cho rằng sự
thờ ơ của nàng đã thúc đẩy hắn làm bậy. Trước lời buộc tội ấy, nàng vẫn thản
nhiên như không. Sau ngày cưới, Chuyên rất buồn trước vẻ lãnh đạm của vợ. Hắn
đi tìm một nguồn an ủi khác. Khanh nghe đồn hắn yêu Trúc, người nữ y tá giúp
việc cho hắn. Nàng coi đó là việc tất nhiên. Mối tình vụng trộm giũa hắn và cô
y tá dần dần trở nên công khai. Khanh vẫn không thèm để ý. Trong thời gian này,
nàng xin đi dạy học để hoàn toàn biệt lập với chồng về mọi phương diện, nhất là
về tài chính.
Một hôm đi dạy học về, Khanh bắt gặp Chuyên
đang hôn người yêu trong phòng khách. Họ mải mê ghì lấy nhau, không trông thấy
nàng. Nàng rón rén đi qua rồi khép cửa lại rất nhẹ nhàng.
Thấy vợ chồng con gái sống một cách khác
thường, một hôm mẹ nàng hỏi :
"Thằng chồng mày nó chơi bời như thế mà mày
để yên ? Mày phải làm cho nó sợ
chứ."
Khanh hỏi mẹ :
"Theo ý mẹ, con nên làm gì bây giờ
?"
Mẹ nàng hơi lúng túng :
"Tùy mày...Khuyên nó chẳng hạn..."
"Con không thừa lời. Với lại anh ấy đã
đỗ đến bác sĩ thì cần gì lời khuyên của con."
Mẹ nàng tái mặt vì tức giận. Bà gầm lên :
"Mày ăn nói với mẹ mày như thế hả, con
kia ? Tao biết mày vẫn có lòng oán trách
bố mẹ đã không cho mày lấy thằng Mai, nên mày mới đối xử với chồng mày tệ như
vậy. Nếu mày không hòa thuận với nó thì đừng hòng nhìn mặt tao. Mày tưởng mày
làm vậy là mày khôn lắm đấy, phải không ?
Sống không muốn lại cứ muốn chết !"
"Mẹ tưởng con bây giờ còn sống hay sao
?"
Mẹ nàng trố mắt ngạc nhiên, không hiểu nàng
định nói gì. Nàng xem giờ, rồi thản nhiên xách cặp đứng lên :
"Con xin phép mẹ con đi dạy học."
Buổi tối hôm ấy, Khanh phải tiếp Lan, người
chị dâu lớn nhất trong gia đình. Lan mở đầu câu chuyện bằng lời trách :
"Cô ăn nói chẳng chịu giữ ý tứ gì cả.
Sáng nay, sau khi sang thăm cô về, mẹ buồn lắm. Mẹ giận cô nên chẳng thiết ăn
uống gì."
Khanh vờ ngạc nhiên :
"Chết ! Làm sao thế, hả chị ? Em có dám làm gì mẹ đâu. Mẹ thích buồn thì mẹ
buồn đấy chứ."
Lan nhăn mặt :
"Vì cô không nghe lời mẹ nên mẹ buồn.
Đành rằng cô còn yêu cậu Mai, nhưng đã không lấy được nhau thì nên quên nhau
đi. Cô có chắc bây giờ cậu ấy còn yêu cô không ? Mà tại sao cô cứ cho việc yêu thương là quan
trọng ? Chẳng qua cũng chỉ một thời gian
là phai nhạt hết. Can chi chuốc lấy buồn đau. Giả dụ hai người lấy được nhau,
có chắc được sung sướng suốt đời không ?
Hay cũng chỉ được vài năm là chán nhau ngay đấy. Cô đã bằng lòng lấy chú
Chuyên thì nên làm tròn bổn phận của một người vợ, đùng để ai chê cười, nhất là
chê cười ba mẹ không biết dạy cô."
"Em không bằng lòng lấy Chuyên”, Khanh
đáp, “ba mẹ ép thì em phải lấy. Bổn phận của em đối với Chuyên thật hoàn toàn,
nếu chỉ nói đến bổn phận làm vơ. Anh ấy muốn gì được nấy, em không tiếc một mảy
may nào hết. Còn chuyện Mai với em đã thuộc về dĩ vãng, xin chị đừng nhắc đến
anh ấy nữa. Công việc em làm ngày nay, anh ấy không hề biết. Từ ngày em lấy
chồng, chúng em chưa từng gặp nhau bao giờ. Đành rằng yêu nhau thì đẹp, lấy
nhau chưa chắc đã có hạnh phúc, nhưng nếu tuổi trẻ không được mãn nguyện về
tình yêu thì lòng lại ấm ức, mang hận suốt đời. Mà nói cho ngay, em lấy Chuyên
có được ngày nào sung sướng không ?"
Lan cười nhạt :
"Còn chuyện cô y tá thì sao ? Cô không cấm đoán chú ấy ?"
Khanh thản nhiên :
"Em không cấm, không cản, không phá vì
em không ghen."
"Nghĩa là cô
không yêu ?"
"Tùy chị
muốn hiểu sao cũng được."
Dù mọi người
trong gia đình luôn luôn thúc giục Khanh phải có phản ứng trong việc ngoại tình
của Chuyên, nàng vẫn làm ngơ. Hồi đó, Chuyên đã thuê nhà riêng cho Trúc ở.
Khanh nghĩ rằng nếu Chuyên đưa người yêu về nhà, nàng cũng sẽ làm ngơ. Nàng chỉ
mong Chuyên để cho nàng được yên thân.. Nhưng một biến cố bất ngờ đã xảy ra.
Một đêm, Chuyên đi xa về, bắt gặp Trúc nằm trong tay một người bạn thân của
hắn. Nổi cơn ghen, Chuyên giết cả bạn lẫn người tình bằng mấy nhát búa, rồi ra
quận cảnh sát tự thú.
Khanh bỗng nghe
tiếng Thúy hỏi lớn :
"Cô giáo
nghĩ gì mà thần mặt ra thế ?"
Nàng đáp :
"Mình đang
nghĩ tới những người sung sướng như Thúy, chả có điều gì buồn phiền cả."
Thúy cười :
"Thôi, cô ả
đừng đánh trống lảng. Tôi biết cô đang nghĩ gì rồi. Cô nhớ và thương đức phu
quân, phải không ?"
Khanh gật gù :
"Chồng người
ta mà cấm người ta nhớ thương sao ? Thế
thì phải nhớ thương ai bây giờ đây ?"
Thúy chợt hỏi :
"Hôm nay ai
cãi cho anh Chuyên ? Có phải Lũy không
?"
Khanh gật đầu.
Nàng bỗng nhớ tới hồi mới xảy ra án mạng. Mẹ nàng cuống quýt giục :
"Con phải đi
tìm luật sư biện hộ cho chồng đi. Đùng để nó phải ở tù mà khổ thân nó. Con định
nhờ ai chưa ?"
Thấy nàng im
lặng, bà hỏi :
"Con có biết
anh Lũy không ? Tao nghe nói anh ấy chơi
thân với anh Chuyên lắm. Nhờ anh ấy thì tiện quá."
Nàng vẫn giữ im
lặng. Bà gắt :
"Mày điếc à
? Có nghe tao nói gì không ?"
Khanh đáp hững hờ
:
"Có ạ. Nhưng
không phải việc của con. Giết người thì ở tù, còn oan uổng nỗi gì nữa."
Mẹ nàng đập tay
xuống bàn, gạt phăng mấy tách nước rơi xuống đất vỡ loảng xoảng, đùng đùng nổi
giận, la lớn :
"Mày nói thế
mà nghe được à, con kia ! Đồ mất dạy ! Đồ vô giáo dục ! Chồng mày chứ đứa nào
mà mày coi như quân thù quân hằn ! Không có tình nghĩa gì hết ! Tao không ngờ
mày lại tàn nhẫn đến thế."
Khanh vẫn giữ nét
mặt bình thản, nhìn mẹ la lối ầm ĩ. Sau cùng, bà thất vọng ra về. Mấy hôm sau,
nàng nghe tin gia đình Chuyên đã nhờ Lũy biện hộ.
Khanh nói với
Thúy :
"Cãi thì
cãi, ăn thua gì."
Thúy lắc đầu :
"Mình cho
rằng anh ấy giết người trong cơn ghen, có thể được...nhẹ đi rất nhiêu. Nhất là
không có dự mưu trước."
Khanh nhún vai :
"Thì cũng
vẫn tù, chẳng nhiều thì ít. Thôi thế cũng xong !"
Thúy hiểu rằng
Chuyên tù hay không thì cũng chả có nghĩa lý gì với Khanh.
Lúc Khanh và Thúy
đến tòa án, phòng xử đã đông nghẹt người. Khanh đảo mắt nhìn quanh. Từ một góc
xa, một bàn tay nhỏ bé giơ lên vẫy gọi. Nhận ra Thanh, nàng kéo Thúy đi về phía
bạn. Thanh nhích sang một bên để nhường chỗ cho hai người. Khanh để ý ngắm cái
miệng xinh và cặp mắt đen láy của bạn. Nàng nghĩ tới Mai. Có lần nàng đã viết
thư khuyên Mai nên lấy Thanh. Nếu chàng bằng lòng, nàng sẽ làm mối. Nàng tin
Thanh có thể đem hạnh phúc lại cho Mai. Nhưng nàng không nhận được hồi âm của
Mai. Ít lâu sau, Thanh lấy người bạn học cùng trường. Hai vợ chồng đều dạy học.
Khanh tiếc cho Mai mãi. Nàng biết Mai còn yêu nàng tha thiết nên không thể lấy người khác.
Tòa bắt đầu xử,
nhưng Khanh không để ý theo dõi. Nàng tới đây không vì tò mò, cũng không vì lo
lắng cho số phận của Chuyên, mà chỉ vì bị gia đình cưỡng ép. Đáng lẽ hôm nay
nàng lên Đà lạt từ sáng sớm, nhưng phải tạm hoãn cuộc hành trình đến trưa, sau
phiên tòa. Tuy ngồi đây mà trí óc nàng để mãi đâu đâu. Nàng nhớ tới lời buộc
tội của gia đình, nhất là mẹ nàng, trong thời gian vừa qua :
"Chỉ vì mày
mà chồng mày mới trở thành tên sát nhân. Nếu mày đùng có lạnh nhạt với nó, nếu
mày làm tròn bổn phận của một người vợ thì nó đâu có phải chạy theo con đĩ
Trúc. Thế mà lúc nào mặt mày cũng trân trân, tưởng như thế là hay."
Khanh chỉ ngồi im
lặng nghe mẹ sỉ vả, lơ đãng nhìn ra ngoài vườn. Nền trời đen xẫm đóng khung
vuông sau cửa sổ. Chợt đồng hồ treo tường điểm mười một tiếng sau khi đã dạo
đàn một cách chậm chạp. Nàng nói với mẹ :
"Khuya rồi,
mẹ ngủ lại đây với con nhé. Để con bảo chị vú làm giường cho mẹ."
Bà cụ chợt thở
dài :
"Thì ra từ
nãy tao nói mày không nghe gì cả."
Rồi bà vùng vằng
ra về.
Hôm nay nghe công
tố viên buộc tội Chuyên, Khanh chỉ cười thầm. Thật ra, lỗi lầm đều do gia đình
nàng. Khắt khe một cách vô lý và hẹp hòi quá đáng. Đành rằng tình yêu không
phải là tất cả lẽ sống của con người, nhưng bóp chết một mối tình chân thành là
một việc vô nhân đạo. Hậu quả của sự khắt khe, hẹp hòi đó là vụ xử ngày hôm
nay. Chuyên bị tù hay được tự do, lòng nàng cũng không thay đổi. Tâm hồn nàng
chỉ sống mãi với hình ảnh của Mai.
Bỗng chung quanh
Khanh nổi lên những tiếng ồn ào. Tòa rút vào trong để nghị án. Khanh chợt bắt
gặp tia nhìn của Chuyên. Trong đôi mắt ấy có đượm vẻ buồn thảm và van xin. Nàng
lạnh lùng ngoảnh mặt đi. Nàng thoáng thấy một vài cặp mắt hướng về nàng, trong
đó có cả mắt Lan. Nàng mỉm cười vì thấy mình bỗng nhiên được một số người chú
ý.. Lan đi về phía nàng, cúi xuống nói khẽ :
"Cô phải tỏ
vẻ buồn rầu chứ sao lại cười ? Cô không
thấy nhiều người đang nhìn cô đấy à ?"
Nàng hỏi lại bằng
một giọng diễu cợt :
"Tại sao em
phải buồn, hả chị ?"
Lan hơi cáu :
"Thì tại chú
ấy bị tù, chứ sao nữa !"
"À, ra thế !
Nhưng tại sao mình phải giả dối như vậy ?"
Lan chép miệng :
"Nói chuyện
với cô tức chết đi được. Thôi, mặc cô muốn sao thì sao."
Phòng xử chợt im
lặng. Khanh nghe loáng thoáng hình như Chuyên được hưởng trường hợp giảm khinh,
chỉ bị tù ngắn hạn. Vì ngồi ở xa, nàng nghe không rõ, mà chính nàng cũng không
muốn nghe.. Nàng vẫn cho rằng việc đó không liên hệ gì tới nàng.
Cử tọa bắt đầu ra
về, Khanh đứng lên đi theo Thúy và Thanh. Khi tới đầu hành lang, nàng gặp lính
dẫn Chuyên ra. Trông thấy nàng, Chuyên đứng lại. Hắn nhìn nàng bằng đôi mắt ướt
và đỏ ngầu. nghẹn ngào gọi : "Em
!..."
Nhưng nàng không
để ý, thản nhiên đi qua trước mặt hắn. Bên ngoài, trời hơi âm u vì nhiều mây.
Nhưng nàng lại nói với Thúy :
"Trời hôm
nay đẹp tuyệt !"
8/1960
TQK
Subscribe to:
Posts (Atom)